Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại ái dục. Ba ái dục ấy là gì? Dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Đó là ba ái dục.”
Những ai bị trói buộc bởi xiềng ái dục,
Tâm ưa thích hiện hữu thế này hay thế khác,
Là những người trong trói buộc của Ma Vương
Không được an ổn khỏi sự ràng buộc.
Những chúng sanh ấy tiếp tục luân hồi,
Trôi lăn từ sinh sang tử.
Nhưng những ai đã đoạn tận ái dục,
Thoát khỏi tham ái hiện hữu thế này hay thế khác,
Đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc,
Tuy ở trong đời nhưng đã vượt thoát.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, taṇhā.
Katamā tisso?
Kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā—
imā kho, bhikkhave, tisso taṇhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Taṇhāyogena saṁyuttā,
rattacittā bhavābhave;
Te yogayuttā mārassa,
ayogakkhemino janā;
Sattā gacchanti saṁsāraṁ,
jātīmaraṇagāmino.
Ye ca taṇhaṁ pahantvāna,
vītataṇhā bhavābhave;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Navamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three cravings. What three? The craving for sensual pleasures, the craving for being, and the craving for non-being. These are the three.”
Those fettered by the bond of craving,
Whose minds delight in being this or that,
Are people in the bondage of Māra
Who enjoy no security from bondage.
Such beings continue in saṁsāra,
Going on from birth to death.
But those who have abandoned craving,
Free from craving for being this or that,
Having attained the taints’ destruction,
Though in the world, have gone beyond.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại ái dục. Ba ái dục ấy là gì? Dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Đó là ba ái dục.”
Những ai bị trói buộc bởi xiềng ái dục,
Tâm ưa thích hiện hữu thế này hay thế khác,
Là những người trong trói buộc của Ma Vương
Không được an ổn khỏi sự ràng buộc.
Những chúng sanh ấy tiếp tục luân hồi,
Trôi lăn từ sinh sang tử.
Nhưng những ai đã đoạn tận ái dục,
Thoát khỏi tham ái hiện hữu thế này hay thế khác,
Đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc,
Tuy ở trong đời nhưng đã vượt thoát.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, taṇhā.
Katamā tisso?
Kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā—
imā kho, bhikkhave, tisso taṇhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Taṇhāyogena saṁyuttā,
rattacittā bhavābhave;
Te yogayuttā mārassa,
ayogakkhemino janā;
Sattā gacchanti saṁsāraṁ,
jātīmaraṇagāmino.
Ye ca taṇhaṁ pahantvāna,
vītataṇhā bhavābhave;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Navamaṁ.