Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Ứng Cúng, nói ra: Như vậy tôi nghe.
“Này các Tỳ-kheo, có ba sự tầm cầu này.
Những gì là ba?
Sự tầm cầu dục lạc, sự tầm cầu hữu, và sự tầm cầu phạm hạnh.
Đây là ba sự tầm cầu.
Đức Phật đã nói điều này.
Về việc này, được nói như sau:
“Tịch tịnh, tỉnh giác,
một đệ tử của Phật, có chánh niệm
hiểu rõ các sự tầm cầu,
nguyên nhân của các sự tầm cầu,
nơi chúng chấm dứt,
và con đường dẫn đến sự chấm dứt của chúng.
Với sự chấm dứt của các sự tầm cầu, một Tỳ-kheo
không còn khát ái, được an tịnh.”
Điều này nữa cũng đã được Đức Thế Tôn nói ra: Như vậy tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, esanā.
Katamā tisso?
Kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā—
imā kho, bhikkhave, tisso esanā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Samāhito sampajāno,
sato buddhassa sāvako;
Esanā ca pajānāti,
esanānañca sambhavaṁ.
Yattha cetā nirujjhanti,
maggañca khayagāminaṁ;
Esanānaṁ khayā bhikkhu,
nicchāto parinibbuto”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three kinds of search. What three? The search for sensual gratification, the search for being, and the search for a holy life. These are the three.”
A disciple of the Buddha,
Concentrated, clearly comprehending
And mindful, knows searches
And the origin of searches,
Where they cease and the path
That leads to their full destruction.
With the destruction of searches a bhikkhu,
Without longing, has attained Nibbāna.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Ứng Cúng, nói ra: Như vậy tôi nghe.
“Này các Tỳ-kheo, có ba sự tầm cầu này.
Những gì là ba?
Sự tầm cầu dục lạc, sự tầm cầu hữu, và sự tầm cầu phạm hạnh.
Đây là ba sự tầm cầu.
Đức Phật đã nói điều này.
Về việc này, được nói như sau:
“Tịch tịnh, tỉnh giác,
một đệ tử của Phật, có chánh niệm
hiểu rõ các sự tầm cầu,
nguyên nhân của các sự tầm cầu,
nơi chúng chấm dứt,
và con đường dẫn đến sự chấm dứt của chúng.
Với sự chấm dứt của các sự tầm cầu, một Tỳ-kheo
không còn khát ái, được an tịnh.”
Điều này nữa cũng đã được Đức Thế Tôn nói ra: Như vậy tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, esanā.
Katamā tisso?
Kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā—
imā kho, bhikkhave, tisso esanā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Samāhito sampajāno,
sato buddhassa sāvako;
Esanā ca pajānāti,
esanānañca sambhavaṁ.
Yattha cetā nirujjhanti,
maggañca khayagāminaṁ;
Esanānaṁ khayā bhikkhu,
nicchāto parinibbuto”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.