Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Lời dạy này do Đức Phật, bậc Ứng Cúng, nói ra: đây là điều tôi được nghe.
“Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một kiết sử nào, mà bị trói buộc bởi nó, chúng sanh phải lang thang, luân hồi trong thời gian dài, như kiết sử của ái.
Bị ái trói buộc, chúng sanh phải lang thang, luân hồi trong thời gian dài.”
Đức Phật đã nói lên điều này.
Về điều này, có lời dạy rằng:
“Ái là người bạn đường của một người
khi họ luân hồi trên con đường dài này.
Họ đi từ cõi này sang cõi khác,
nhưng không thoát khỏi luân hồi.
Biết được hiểm nguy này,
rằng ái là nguyên nhân của khổ đau—
thoát khỏi ái, không còn chấp thủ,
một Tỳ-kheo sẽ sống đời chánh niệm.”
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn nói đến: đây là điều tôi được nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekasaṁyojanampi samanupassāmi yena saṁyojanena saṁyuttā sattā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsaranti yathayidaṁ, bhikkhave, taṇhāsaṁyojanaṁ.
Taṇhāsaṁyojanena hi, bhikkhave, saṁyuttā sattā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsarantī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Taṇhādutiyo puriso,
dīghamaddhāna saṁsaraṁ;
Itthabhāvaññathābhāvaṁ,
saṁsāraṁ nātivattati.
Etamādīnavaṁ ñatvā,
Taṇhaṁ dukkhassa sambhavaṁ;
Vītataṇho anādāno,
Sato bhikkhu paribbaje”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, I do not perceive any single fetter other than the fetter of craving by which beings are so tied and for so long a time run on and wander in saṁsāra. It is indeed through the fetter of craving that beings are tied and for a long time run on and wander in saṁsāra.”
A man companioned by craving
Wanders on this long journey;
He cannot go beyond saṁsāra
In this state of being or another.
Having understood the danger thus—
That craving is the origin of suffering—
A bhikkhu should wander mindfully,
Free from craving, without grasping.
Lời dạy này do Đức Phật, bậc Ứng Cúng, nói ra: đây là điều tôi được nghe.
“Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một kiết sử nào, mà bị trói buộc bởi nó, chúng sanh phải lang thang, luân hồi trong thời gian dài, như kiết sử của ái.
Bị ái trói buộc, chúng sanh phải lang thang, luân hồi trong thời gian dài.”
Đức Phật đã nói lên điều này.
Về điều này, có lời dạy rằng:
“Ái là người bạn đường của một người
khi họ luân hồi trên con đường dài này.
Họ đi từ cõi này sang cõi khác,
nhưng không thoát khỏi luân hồi.
Biết được hiểm nguy này,
rằng ái là nguyên nhân của khổ đau—
thoát khỏi ái, không còn chấp thủ,
một Tỳ-kheo sẽ sống đời chánh niệm.”
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn nói đến: đây là điều tôi được nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekasaṁyojanampi samanupassāmi yena saṁyojanena saṁyuttā sattā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsaranti yathayidaṁ, bhikkhave, taṇhāsaṁyojanaṁ.
Taṇhāsaṁyojanena hi, bhikkhave, saṁyuttā sattā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsarantī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Taṇhādutiyo puriso,
dīghamaddhāna saṁsaraṁ;
Itthabhāvaññathābhāvaṁ,
saṁsāraṁ nātivattati.
Etamādīnavaṁ ñatvā,
Taṇhaṁ dukkhassa sambhavaṁ;
Vītataṇho anādāno,
Sato bhikkhu paribbaje”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.