Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba căn này. Ba căn ấy là gì? Căn của sự bảo đảm: 'Ta sẽ đi đến biết trọn vẹn điều chưa được biết trọn vẹn'; căn của sự biết trọn vẹn; và căn của bậc đã biết trọn vẹn. Này các tỳ-kheo, đó là ba căn.”
Đối với bậc hữu học đang tu tập
Thuận theo con đường trực chỉ,
Triệt trí (trí đoạn tận) khởi sinh trước,
Và liền sau đó chánh trí theo sau.
Được giải thoát nhờ chánh trí ấy,
Nhờ đoạn tận kiết sử hữu
Bậc tịch tĩnh có sự xác quyết:
“Sự giải thoát của ta không lay chuyển.”
Thành tựu căn này
Bậc an tịnh vui thích trạng thái an tịnh.
Đã chiến thắng Ma Vương và voi chiến,
Vị ấy mang thân cuối cùng.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tīṇimāni, bhikkhave, indriyāni.
Katamāni tīṇi?
Anaññātaññassāmītindriyaṁ, aññindriyaṁ, aññātāvindriyaṁ—
imāni kho, bhikkhave, tīṇi indriyānī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Sekhassa sikkhamānassa,
ujumaggānusārino;
Khayasmiṁ paṭhamaṁ ñāṇaṁ,
tato aññā anantarā.
Tato aññāvimuttassa,
ñāṇaṁ ve hoti tādino;
Akuppā me vimuttīti,
bhavasaṁyojanakkhayā.
Sa ve indriyasampanno,
santo santipade rato;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhinin”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.
This was said by the Lord …
“Bhikkhus, there are these three faculties. What three? The faculty of the assurance: ‘I shall come to finally know what is as yet not finally known’; the faculty of final knowledge; and the faculty of one who has finally known. These, bhikkhus, are the three faculties.”
For a learner who is training
In conformity with the direct path,
The knowledge of destruction arises first,
And final knowledge immediately follows.
Freed by that final knowledge,
By destroying the fetters of being
The serene one has the certainty:
“Unshakeable is my release.”
Endowed with this faculty
The peaceful one delights in the peaceful state.
Having conquered Māra and his mount,
He bears his final body.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba căn này. Ba căn ấy là gì? Căn của sự bảo đảm: 'Ta sẽ đi đến biết trọn vẹn điều chưa được biết trọn vẹn'; căn của sự biết trọn vẹn; và căn của bậc đã biết trọn vẹn. Này các tỳ-kheo, đó là ba căn.”
Đối với bậc hữu học đang tu tập
Thuận theo con đường trực chỉ,
Triệt trí (trí đoạn tận) khởi sinh trước,
Và liền sau đó chánh trí theo sau.
Được giải thoát nhờ chánh trí ấy,
Nhờ đoạn tận kiết sử hữu
Bậc tịch tĩnh có sự xác quyết:
“Sự giải thoát của ta không lay chuyển.”
Thành tựu căn này
Bậc an tịnh vui thích trạng thái an tịnh.
Đã chiến thắng Ma Vương và voi chiến,
Vị ấy mang thân cuối cùng.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tīṇimāni, bhikkhave, indriyāni.
Katamāni tīṇi?
Anaññātaññassāmītindriyaṁ, aññindriyaṁ, aññātāvindriyaṁ—
imāni kho, bhikkhave, tīṇi indriyānī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Sekhassa sikkhamānassa,
ujumaggānusārino;
Khayasmiṁ paṭhamaṁ ñāṇaṁ,
tato aññā anantarā.
Tato aññāvimuttassa,
ñāṇaṁ ve hoti tādino;
Akuppā me vimuttīti,
bhavasaṁyojanakkhayā.
Sa ve indriyasampanno,
santo santipade rato;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhinin”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.