Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại tìm cầu này…”
Tìm cầu dục lạc, tìm cầu hiện hữu,
Tìm cầu đời sống thánh thiện của kẻ
Dựng lập trên kiến chấp
Và bám chặt vào đó cho là chân lý—
Đó là những sự chồng chất phiền não.
Với vị tỳ-kheo hoàn toàn ly tham
Và giải thoát nhờ đoạn tận tham ái,
Các sự tìm cầu đã được buông bỏ
Và nhổ gốc mọi kiến chấp.
Với sự đoạn tận các tìm cầu, vị tỳ-kheo
Thoát khỏi tham dục và nghi hoặc.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, esanā.
Katamā tisso?
Kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā—
imā kho, bhikkhave, tisso esanā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Kāmesanā bhavesanā,
brahmacariyesanā saha;
Iti saccaparāmāso,
diṭṭhiṭṭhānā samussayā.
Sabbarāgavirattassa,
taṇhakkhayavimuttino;
Esanā paṭinissaṭṭhā,
diṭṭhiṭṭhānā samūhatā;
Esanānaṁ khayā bhikkhu,
nirāso akathaṅkathī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Chaṭṭhaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three kinds of search…”
Sensual search, the search for being,
The search for a holy life of one
Who takes his stand upon a view
And holds it tightly as the truth—
These are heapings of defilements.
For a bhikkhu wholly dispassionate
And freed by the destruction of craving,
Searches have been relinquished
And uprooted the standpoint of views.
With the destruction of searches a bhikkhu
Is free from desire and doubt.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại tìm cầu này…”
Tìm cầu dục lạc, tìm cầu hiện hữu,
Tìm cầu đời sống thánh thiện của kẻ
Dựng lập trên kiến chấp
Và bám chặt vào đó cho là chân lý—
Đó là những sự chồng chất phiền não.
Với vị tỳ-kheo hoàn toàn ly tham
Và giải thoát nhờ đoạn tận tham ái,
Các sự tìm cầu đã được buông bỏ
Và nhổ gốc mọi kiến chấp.
Với sự đoạn tận các tìm cầu, vị tỳ-kheo
Thoát khỏi tham dục và nghi hoặc.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, esanā.
Katamā tisso?
Kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā—
imā kho, bhikkhave, tisso esanā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Kāmesanā bhavesanā,
brahmacariyesanā saha;
Iti saccaparāmāso,
diṭṭhiṭṭhānā samussayā.
Sabbarāgavirattassa,
taṇhakkhayavimuttino;
Esanā paṭinissaṭṭhā,
diṭṭhiṭṭhānā samūhatā;
Esanānaṁ khayā bhikkhu,
nirāso akathaṅkathī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Chaṭṭhaṁ.