Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại cảm thọ. Ba loại ấy là gì? Lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Này các tỳ-kheo, lạc thọ nên được xem là khổ, khổ thọ nên được xem là mũi tên, bất khổ bất lạc thọ nên được xem là vô thường.
“Khi vị tỳ-kheo đã thấy ba cảm thọ như vậy, vị ấy được gọi là bậc thánh thấy đúng. Vị ấy đã cắt đứt ái dục, đoạn tận kiết sử, và nhờ liễu tri kiêu mạn trọn vẹn, vị ấy đã chấm dứt khổ đau.”
Người thấy lạc là khổ
Và thấy khổ là mũi tên.
Người thấy là vô thường cảm thọ an tịnh
Không khổ cũng không vui.
Vị tỳ-kheo thấy đúng như vậy
Nhờ đó được khéo giải thoát.
Thành tựu trí tuệ, an tịnh,
Bậc hiền giả ấy đã vượt thoát mọi trói buộc.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā;
dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā;
adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ariyo, sammaddaso, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Yo sukhaṁ dukkhato adda,
Dukkhamaddakkhi sallato;
Adukkhamasukhaṁ santaṁ,
Adakkhi naṁ aniccato.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
yato tattha vimuccati;
Abhiññāvosito santo,
sa ve yogātigo munī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three feelings. What three? Pleasant feeling, painful feeling, and neither-pleasant-nor-painful feeling. Pleasant feeling, bhikkhus, should be seen as suffering, painful feeling should be seen as a dart, neither-pleasant-nor-painful feeling should be seen as impermanent.
“When a bhikkhu has seen these three feelings thus, he is said to be a noble one who sees rightly. He has cut off craving, destroyed the fetters, and by thoroughly understanding conceit, he has made an end of suffering.”
One sees pleasure as suffering
And sees pain as a dart.
One sees as impermanent the peaceful feeling
That is neither pleasant nor painful.
Such a bhikkhu who sees rightly
Is thereby well released.
Accomplished in knowledge, at peace,
That sage has overcome all bonds.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại cảm thọ. Ba loại ấy là gì? Lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Này các tỳ-kheo, lạc thọ nên được xem là khổ, khổ thọ nên được xem là mũi tên, bất khổ bất lạc thọ nên được xem là vô thường.
“Khi vị tỳ-kheo đã thấy ba cảm thọ như vậy, vị ấy được gọi là bậc thánh thấy đúng. Vị ấy đã cắt đứt ái dục, đoạn tận kiết sử, và nhờ liễu tri kiêu mạn trọn vẹn, vị ấy đã chấm dứt khổ đau.”
Người thấy lạc là khổ
Và thấy khổ là mũi tên.
Người thấy là vô thường cảm thọ an tịnh
Không khổ cũng không vui.
Vị tỳ-kheo thấy đúng như vậy
Nhờ đó được khéo giải thoát.
Thành tựu trí tuệ, an tịnh,
Bậc hiền giả ấy đã vượt thoát mọi trói buộc.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā;
dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā;
adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ariyo, sammaddaso, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Yo sukhaṁ dukkhato adda,
Dukkhamaddakkhi sallato;
Adukkhamasukhaṁ santaṁ,
Adakkhi naṁ aniccato.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
yato tattha vimuccati;
Abhiññāvosito santo,
sa ve yogātigo munī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.