Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Ở đây, này các tỳ-kheo, có người tâm ô nhiễm. Sau khi dùng tâm Ta quán sát tâm người ấy, Ta biết rằng nếu người này chết vào lúc này, như được mang đến, người ấy sẽ bị đặt vào địa ngục. Lý do là gì? Vì tâm người ấy ô nhiễm. Chính vì tâm ô nhiễm mà một số chúng sanh ở đây, khi thân hoại mạng chung, bị tái sinh vào cảnh giới khổ, đọa xứ, cõi dữ, địa ngục.”
Hiểu rõ tâm ô nhiễm
Của một người ở đây,
Đức Phật giải thích ý nghĩa
Trước mặt các tỳ-kheo.
Nếu người ấy chết
Ngay khoảnh khắc này,
Vị ấy sẽ tái sinh vào địa ngục
Vì tâm ô nhiễm.
Như được mang đi
Và đặt vào đó, như vậy
Chúng sanh đi vào cảnh giới ác
Vì tâm ô nhiễm.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Idhāhaṁ, bhikkhave, ekaccaṁ puggalaṁ paduṭṭhacittaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imamhi cāyaṁ samaye puggalo kālaṁ kareyya yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye’.
Taṁ kissa hetu?
Cittaṁ hissa, bhikkhave, paduṭṭhaṁ.
Cetopadosahetu kho pana, bhikkhave, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjantī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Paduṭṭhacittaṁ ñatvāna,
ekaccaṁ idha puggalaṁ;
Etamatthañca byākāsi,
buddho bhikkhūna santike.
Imamhi cāyaṁ samaye,
kālaṁ kayirātha puggalo;
Nirayaṁ upapajjeyya,
cittaṁ hissa padūsitaṁ.
Yathā haritvā nikkhipeyya,
evamevaṁ tathāvidho;
Cetopadosahetu hi,
sattā gacchanti duggatin”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Moho kodho atha makkho,
Vijjā taṇhā sekhaduve ca;
Bhedo sāmaggipuggalo,
Vaggamāhu dutiyanti vuccatīti.
This was said by the Lord…
“Here, bhikkhus, some person has a corrupt mind. Having examined his mind with my mind, I know that if this person were to die at this time, as if carried there he would be placed in hell. What is the reason for that? It is because his mind is corrupt. It is because of the mind’s corruption that some beings here, when the body perishes, are reborn after death in a state of misery, a bad bourn, a state of ruin, hell.”
Understanding the corrupt mind
Of some person dwelling here,
The Buddha explained its meaning
In the presence of the bhikkhus.
If that person were to die
At this very moment now,
He would be reborn in hell
Because of his corrupt mind.
As if they were carried off
And placed there, thus
Beings go to a bad bourn
Because of mind’s corruption.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Ở đây, này các tỳ-kheo, có người tâm ô nhiễm. Sau khi dùng tâm Ta quán sát tâm người ấy, Ta biết rằng nếu người này chết vào lúc này, như được mang đến, người ấy sẽ bị đặt vào địa ngục. Lý do là gì? Vì tâm người ấy ô nhiễm. Chính vì tâm ô nhiễm mà một số chúng sanh ở đây, khi thân hoại mạng chung, bị tái sinh vào cảnh giới khổ, đọa xứ, cõi dữ, địa ngục.”
Hiểu rõ tâm ô nhiễm
Của một người ở đây,
Đức Phật giải thích ý nghĩa
Trước mặt các tỳ-kheo.
Nếu người ấy chết
Ngay khoảnh khắc này,
Vị ấy sẽ tái sinh vào địa ngục
Vì tâm ô nhiễm.
Như được mang đi
Và đặt vào đó, như vậy
Chúng sanh đi vào cảnh giới ác
Vì tâm ô nhiễm.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Idhāhaṁ, bhikkhave, ekaccaṁ puggalaṁ paduṭṭhacittaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imamhi cāyaṁ samaye puggalo kālaṁ kareyya yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye’.
Taṁ kissa hetu?
Cittaṁ hissa, bhikkhave, paduṭṭhaṁ.
Cetopadosahetu kho pana, bhikkhave, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjantī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Paduṭṭhacittaṁ ñatvāna,
ekaccaṁ idha puggalaṁ;
Etamatthañca byākāsi,
buddho bhikkhūna santike.
Imamhi cāyaṁ samaye,
kālaṁ kayirātha puggalo;
Nirayaṁ upapajjeyya,
cittaṁ hissa padūsitaṁ.
Yathā haritvā nikkhipeyya,
evamevaṁ tathāvidho;
Cetopadosahetu hi,
sattā gacchanti duggatin”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Moho kodho atha makkho,
Vijjā taṇhā sekhaduve ca;
Bhedo sāmaggipuggalo,
Vaggamāhu dutiyanti vuccatīti.