Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có một pháp, khi được tu tập và thường xuyên thực hành, sẽ đạt được và duy trì cả hai loại an lạc: an lạc ngay trong đời này và an lạc trong đời sau. Pháp ấy là gì? Đó là sự tinh cần trong các thiện pháp. Đây là pháp ấy…”
Bậc trí ca ngợi sự tinh cần
Trong việc làm các công đức;
Vì người trí tuệ và tinh cần
Đạt được lợi ích hai mặt:
An lạc ngay trong đời này
Và an lạc trong đời sau.
Vì đã chứng ngộ điều lành,
Người trí được gọi là bậc hiền giả.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Ekadhammo, bhikkhave, bhāvito bahulīkato ubho atthe samadhigayha tiṭṭhati—
diṭṭhadhammikañceva atthaṁ samparāyikañca.
Katamo ekadhammo?
Appamādo kusalesu dhammesu.
Ayaṁ kho, bhikkhave, ekadhammo bhāvito bahulīkato ubho atthe samadhigayha tiṭṭhati—
diṭṭhadhammikañceva atthaṁ samparāyikañcā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Appamādaṁ pasaṁsanti,
puññakiriyāsu paṇḍitā;
Appamatto ubho atthe,
adhigaṇhāti paṇḍito.
Diṭṭhe dhamme ca yo attho,
yo cattho samparāyiko;
Atthābhisamayā dhīro,
paṇḍitoti pavuccatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.
This was said by the Lord…
“There is one thing, bhikkhus, developed and continually practised, by which both kinds of welfare are acquired and maintained: welfare here and now, and that pertaining to the future. What is that one thing? It is diligence in wholesome states. This is that one thing…”
The wise praise diligence
In doing deeds of merit;
For one who is wise and diligent
Obtains a twofold benefit:
Welfare in the here and now
And welfare in a future life.
And because one has realized the good,
The wise person is called a sage.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có một pháp, khi được tu tập và thường xuyên thực hành, sẽ đạt được và duy trì cả hai loại an lạc: an lạc ngay trong đời này và an lạc trong đời sau. Pháp ấy là gì? Đó là sự tinh cần trong các thiện pháp. Đây là pháp ấy…”
Bậc trí ca ngợi sự tinh cần
Trong việc làm các công đức;
Vì người trí tuệ và tinh cần
Đạt được lợi ích hai mặt:
An lạc ngay trong đời này
Và an lạc trong đời sau.
Vì đã chứng ngộ điều lành,
Người trí được gọi là bậc hiền giả.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Ekadhammo, bhikkhave, bhāvito bahulīkato ubho atthe samadhigayha tiṭṭhati—
diṭṭhadhammikañceva atthaṁ samparāyikañca.
Katamo ekadhammo?
Appamādo kusalesu dhammesu.
Ayaṁ kho, bhikkhave, ekadhammo bhāvito bahulīkato ubho atthe samadhigayha tiṭṭhati—
diṭṭhadhammikañceva atthaṁ samparāyikañcā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Appamādaṁ pasaṁsanti,
puññakiriyāsu paṇḍitā;
Appamatto ubho atthe,
adhigaṇhāti paṇḍito.
Diṭṭhe dhamme ca yo attho,
yo cattho samparāyiko;
Atthābhisamayā dhīro,
paṇḍitoti pavuccatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.