Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán thuyết: đây là điều tôi nghe.
"Này các tỳ-kheo, đây là lối sống thấp kém nhất, tức là sống nhờ vào khất thực.
Người đời nguyền rủa các ông: ‘Đồ ăn mày, cầm bát đi xin!’
Thế nhưng những thiện nam tử chân chính lại chấp nhận lối sống đó vì một lý do chính đáng.
Không phải để trốn tránh sự triệu tập của nhà vua hay bị pháp luật truy đuổi, hay vì mắc nợ, hay vì sợ hãi, hay để kiếm kế sinh nhai.
Mà đúng hơn là vì họ nghĩ: ‘Ta đang bị bủa vây bởi sanh, già và bệnh chết; bởi sầu, bi, khổ, ưu và não. Ta đang bị nhận chìm trong đau khổ, thống khổ ngập tràn.
Mong sao ta có thể chấm dứt toàn bộ khối đau khổ này.’
Đó là lý do vị thiện nam tử này xuất gia.
Thế nhưng họ lại thèm khát các dục lạc luyến ái; họ bị say mê, đầy ác ý và những ý định độc ác. Họ thất niệm, thiếu tỉnh giác và không có định tâm, với tâm trí lang thang phiêu tán và các căn không thu thúc.
Giả sử có một thanh củi dùng để châm lửa cho giàn thiêu xác, cháy ở cả hai đầu, và ở giữa bị dính đầy phân. Nó không thể được dùng làm gỗ đốt trong làng hay trong rừng.
Ta nói rằng cá nhân kẻ đó chính là như vậy. Họ đã bỏ lỡ những thú vui của đời sống thế tục, và cũng không hoàn thành được mục tiêu của đời sống sa-môn."
Đức Phật đã luận bàn điều này.
Chính ở chỗ đó nên có kệ rằng:
"Họ đã bỏ lại những thú vui của cuộc sống thế tục,
và cũng vụt mất mục đích của đời sống sa-môn.
Tự hủy hoại mình, họ đánh mất trọn vẹn,
và lụn bại vong tiêu như khúc củi giàn thiêu.
Rất nhiều kẻ khoác mảnh y cà-sa vàng,
lại sống không thu thúc giữ giới và đầy ác hạnh.
Bởi là kẻ ác, nên họ bị tái sanh vào cõi ngục
do chính ác nghiệp của mình tạo ra.
Thà ăn nuốt hòn sắt nung
nóng rực như ngọn lửa bùng cháy đượm hồng,
còn hơn kẻ ác hạnh phá giới buông lung
lại thọ nhận phẩm vật khất thực của tính tín cúng dường."
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết dạy: đó là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Antamidaṁ, bhikkhave, jīvikānaṁ yadidaṁ piṇḍolyaṁ.
Abhisāpoyaṁ, bhikkhave, lokasmiṁ: ‘piṇḍolo vicarasi pattapāṇī’ti.
Tañca kho etaṁ, bhikkhave, kulaputtā upenti atthavasikā, atthavasaṁ paṭicca;
neva rājābhinītā, na corābhinītā, na iṇaṭṭā, na bhayaṭṭā, na ājīvikāpakatā.
Api ca kho ‘otiṇṇamhā jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇā dukkhaparetā,
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Evaṁ pabbajito cāyaṁ, bhikkhave, kulaputto.
So ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo, byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo, muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo.
Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhatopadittaṁ majjhe gūthagataṁ neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati na araññe;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi gihibhogā parihīno sāmaññatthañca na paripūretī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Gihibhogā parihīno,
Sāmaññatthañca dubbhago;
Paridhaṁsamāno pakireti,
Chavālātaṁva nassati.
Kāsāvakaṇṭhā bahavo,
pāpadhammā asaññatā;
Pāpā pāpehi kammehi,
nirayaṁ te upapajjare.
Seyyo ayoguḷo bhutto,
tatto aggisikhūpamo;
Yañce bhuñjeyya dussīlo,
raṭṭhapiṇḍamasaññato”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dutiyaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, this is a contemptible means of subsistence, this gathering of alms. In the world, bhikkhus, it is a form of abuse to say, ‘You alms-gatherer! Wandering about clutching a bowl!’ Yet this means of subsistence has been taken up by young men of good family for a reason, for a purpose. They have not been reduced to it by kings nor by robbers nor because of debt nor through fear nor from loss of an alternative means of livelihood, but with the thought: ‘We are beset by birth, ageing and death, by sorrow, lamentation, pain, grief, and despair; overcome by suffering, afflicted by suffering. Perhaps an end can be discerned of this whole mass of suffering!’
“So this young man of good family has gone forth (into homelessness), but he may be covetous for objects of desire, strongly passionate, malevolent, corrupt in thought, unmindful, uncomprehending, unconcentrated, of wandering mind and uncontrolled faculties. Just as a brand from a funeral pyre, burnt at both ends and in the middle smeared with excrement, can be used as timber neither in the village nor in the forest, so by such a simile do I speak about this person: he has missed out on the enjoyments of a householder, yet he does not fulfil the purpose of recluseship.”
He has missed both a layman’s pleasure
And his recluseship, too, the luckless man!
Ruining it, he throws it away
And perishes like a funerary brand.
Far better for him to swallow
A fiery hot iron ball
Than that immoral and uncontrolled
He should eat the country’s alms.
Điều này đã được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán thuyết: đây là điều tôi nghe.
"Này các tỳ-kheo, đây là lối sống thấp kém nhất, tức là sống nhờ vào khất thực.
Người đời nguyền rủa các ông: ‘Đồ ăn mày, cầm bát đi xin!’
Thế nhưng những thiện nam tử chân chính lại chấp nhận lối sống đó vì một lý do chính đáng.
Không phải để trốn tránh sự triệu tập của nhà vua hay bị pháp luật truy đuổi, hay vì mắc nợ, hay vì sợ hãi, hay để kiếm kế sinh nhai.
Mà đúng hơn là vì họ nghĩ: ‘Ta đang bị bủa vây bởi sanh, già và bệnh chết; bởi sầu, bi, khổ, ưu và não. Ta đang bị nhận chìm trong đau khổ, thống khổ ngập tràn.
Mong sao ta có thể chấm dứt toàn bộ khối đau khổ này.’
Đó là lý do vị thiện nam tử này xuất gia.
Thế nhưng họ lại thèm khát các dục lạc luyến ái; họ bị say mê, đầy ác ý và những ý định độc ác. Họ thất niệm, thiếu tỉnh giác và không có định tâm, với tâm trí lang thang phiêu tán và các căn không thu thúc.
Giả sử có một thanh củi dùng để châm lửa cho giàn thiêu xác, cháy ở cả hai đầu, và ở giữa bị dính đầy phân. Nó không thể được dùng làm gỗ đốt trong làng hay trong rừng.
Ta nói rằng cá nhân kẻ đó chính là như vậy. Họ đã bỏ lỡ những thú vui của đời sống thế tục, và cũng không hoàn thành được mục tiêu của đời sống sa-môn."
Đức Phật đã luận bàn điều này.
Chính ở chỗ đó nên có kệ rằng:
"Họ đã bỏ lại những thú vui của cuộc sống thế tục,
và cũng vụt mất mục đích của đời sống sa-môn.
Tự hủy hoại mình, họ đánh mất trọn vẹn,
và lụn bại vong tiêu như khúc củi giàn thiêu.
Rất nhiều kẻ khoác mảnh y cà-sa vàng,
lại sống không thu thúc giữ giới và đầy ác hạnh.
Bởi là kẻ ác, nên họ bị tái sanh vào cõi ngục
do chính ác nghiệp của mình tạo ra.
Thà ăn nuốt hòn sắt nung
nóng rực như ngọn lửa bùng cháy đượm hồng,
còn hơn kẻ ác hạnh phá giới buông lung
lại thọ nhận phẩm vật khất thực của tính tín cúng dường."
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết dạy: đó là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Antamidaṁ, bhikkhave, jīvikānaṁ yadidaṁ piṇḍolyaṁ.
Abhisāpoyaṁ, bhikkhave, lokasmiṁ: ‘piṇḍolo vicarasi pattapāṇī’ti.
Tañca kho etaṁ, bhikkhave, kulaputtā upenti atthavasikā, atthavasaṁ paṭicca;
neva rājābhinītā, na corābhinītā, na iṇaṭṭā, na bhayaṭṭā, na ājīvikāpakatā.
Api ca kho ‘otiṇṇamhā jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇā dukkhaparetā,
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Evaṁ pabbajito cāyaṁ, bhikkhave, kulaputto.
So ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo, byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo, muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo.
Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhatopadittaṁ majjhe gūthagataṁ neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati na araññe;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi gihibhogā parihīno sāmaññatthañca na paripūretī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Gihibhogā parihīno,
Sāmaññatthañca dubbhago;
Paridhaṁsamāno pakireti,
Chavālātaṁva nassati.
Kāsāvakaṇṭhā bahavo,
pāpadhammā asaññatā;
Pāpā pāpehi kammehi,
nirayaṁ te upapajjare.
Seyyo ayoguḷo bhutto,
tatto aggisikhūpamo;
Yañce bhuñjeyya dussīlo,
raṭṭhapiṇḍamasaññato”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dutiyaṁ.