Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nên quán sát sao cho khi quán sát, thức của vị ấy không bị phân tán và tản mát ra bên ngoài, bên trong không bị cố định, và do không nắm giữ bất cứ thứ gì, vị ấy an trú không bị dao động. Nếu thức không bị phân tán và tản mát ra bên ngoài, bên trong không bị cố định, và nếu do không nắm giữ bất cứ thứ gì vị ấy an trú không bị dao động, thì sẽ không có sự khởi sinh của sanh, già, chết và khổ đau trong tương lai.”
Khi vị tỳ-kheo đã đoạn trừ
Bảy sự trói buộc và cắt đứt sợi dây,
Sự lang thang trong các kiếp sống đã chấm dứt:
Không còn sự tái sinh cho vị ấy.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tathā tathā, bhikkhave, bhikkhu upaparikkheyya yathā yathāssa upaparikkhato bahiddhā cassa viññāṇaṁ avikkhittaṁ avisaṭaṁ ajjhattaṁ asaṇṭhitaṁ anupādāya na paritasseyya.
Bahiddhā, bhikkhave, viññāṇe avikkhitte avisaṭe sati ajjhattaṁ asaṇṭhite anupādāya aparitassato āyatiṁ jātijarāmaraṇadukkhasamudayasambhavo na hotī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Sattasaṅgappahīnassa,
netticchinnassa bhikkhuno;
Vikkhīṇo jātisaṁsāro,
natthi tassa punabbhavo”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, a bhikkhu should so investigate that as he investigates, his consciousness is not distracted and diffused externally, and internally is not fixed, and by not grasping anything he should remain undisturbed. If his consciousness is not distracted and diffused externally, and internally is not fixed, and if by not grasping anything he remains undisturbed, then there is no coming into existence of birth, ageing, death, and suffering in the future.”
When a bhikkhu has abandoned
The seven ties and cut the cord,
His wandering on in births is finished:
There is no renewal of being for him.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nên quán sát sao cho khi quán sát, thức của vị ấy không bị phân tán và tản mát ra bên ngoài, bên trong không bị cố định, và do không nắm giữ bất cứ thứ gì, vị ấy an trú không bị dao động. Nếu thức không bị phân tán và tản mát ra bên ngoài, bên trong không bị cố định, và nếu do không nắm giữ bất cứ thứ gì vị ấy an trú không bị dao động, thì sẽ không có sự khởi sinh của sanh, già, chết và khổ đau trong tương lai.”
Khi vị tỳ-kheo đã đoạn trừ
Bảy sự trói buộc và cắt đứt sợi dây,
Sự lang thang trong các kiếp sống đã chấm dứt:
Không còn sự tái sinh cho vị ấy.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tathā tathā, bhikkhave, bhikkhu upaparikkheyya yathā yathāssa upaparikkhato bahiddhā cassa viññāṇaṁ avikkhittaṁ avisaṭaṁ ajjhattaṁ asaṇṭhitaṁ anupādāya na paritasseyya.
Bahiddhā, bhikkhave, viññāṇe avikkhitte avisaṭe sati ajjhattaṁ asaṇṭhite anupādāya aparitassato āyatiṁ jātijarāmaraṇadukkhasamudayasambhavo na hotī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Sattasaṅgappahīnassa,
netticchinnassa bhikkhuno;
Vikkhīṇo jātisaṁsāro,
natthi tassa punabbhavo”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.