Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Ứng Cúng, nói ra: đây là điều tôi đã nghe.
“Này các Tỳ-kheo, có những loại thiện hạnh này.
Những gì là ba?
Thiện hạnh về thân, về khẩu, và về ý.
Đây là ba loại thiện hạnh.”
Đức Phật đã nói điều này.
Về điều này, có lời dạy rằng:
“Đã từ bỏ ác hạnh
về thân,
khẩu, và ý,
và bất cứ điều gì khác là hư hoại;
kh��ng làm các ác nghiệp,
và đã làm nhiều điều thiện,
khi thân hoại mạng chung, người trí ấy
được tái sanh lên cõi trời.”
Điều này nữa cũng là điều đã được Đức Thế Tôn nói ra: đây là điều tôi đã nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tīṇimāni, bhikkhave, sucaritāni.
Katamāni tīṇi?
Kāyasucaritaṁ, vacīsucaritaṁ, manosucaritaṁ—
imāni kho, bhikkhave, tīṇi sucaritānī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Kāyaduccaritaṁ hitvā,
vacīduccaritāni ca;
Manoduccaritaṁ hitvā,
yañcaññaṁ dosasaṁhitaṁ.
Akatvākusalaṁ kammaṁ,
katvāna kusalaṁ bahuṁ;
Kāyassa bhedā sappañño,
saggaṁ so upapajjatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Chaṭṭhaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three kinds of good conduct. What are the three? Good conduct by body, good conduct by speech, and good conduct by mind. These are the three.”
Having abandoned misconduct
By body, misconduct by speech,
Misconduct by mind, and whatever else
Is reckoned a fault—
Not having done a bad deed
And done much that is good—
When his body perishes
That wise one is reborn in heaven.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Ứng Cúng, nói ra: đây là điều tôi đã nghe.
“Này các Tỳ-kheo, có những loại thiện hạnh này.
Những gì là ba?
Thiện hạnh về thân, về khẩu, và về ý.
Đây là ba loại thiện hạnh.”
Đức Phật đã nói điều này.
Về điều này, có lời dạy rằng:
“Đã từ bỏ ác hạnh
về thân,
khẩu, và ý,
và bất cứ điều gì khác là hư hoại;
kh��ng làm các ác nghiệp,
và đã làm nhiều điều thiện,
khi thân hoại mạng chung, người trí ấy
được tái sanh lên cõi trời.”
Điều này nữa cũng là điều đã được Đức Thế Tôn nói ra: đây là điều tôi đã nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tīṇimāni, bhikkhave, sucaritāni.
Katamāni tīṇi?
Kāyasucaritaṁ, vacīsucaritaṁ, manosucaritaṁ—
imāni kho, bhikkhave, tīṇi sucaritānī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Kāyaduccaritaṁ hitvā,
vacīduccaritāni ca;
Manoduccaritaṁ hitvā,
yañcaññaṁ dosasaṁhitaṁ.
Akatvākusalaṁ kammaṁ,
katvāna kusalaṁ bahuṁ;
Kāyassa bhedā sappañño,
saggaṁ so upapajjatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Chaṭṭhaṁ.