Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
\"Này các tỳ-kheo, có ba loại lửa.
Ba loại nào?
Lửa tham, lửa sân, và lửa si.
Đây là ba loại lửa.\"
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
\"Lửa tham đốt cháy phàm nhân,
đắm say, mê muội bởi dục lạc;
trong khi rơi vào lửa sân,
người ấy sát hại chúng sanh;
và bị mê lầm bởi lửa si,
họ bỏ lỡ giáo pháp bậc Thánh.
Không nhận ra ba ngọn lửa này,
người ta bị cuốn vào thực tại hữu vi.
Họ đầy ắp hàng ngũ địa ngục,
cõi súc sanh,
a-tu-la và ngạ quỷ,
chưa thoát khỏi xiềng xích Ma Vương.
Nhưng những ai ngày đêm tận tụy
với giáo pháp Đức Phật:
họ dập tắt lửa tham,
luôn quán bất tịnh;
trong khi bậc thượng nhân
dập tắt lửa sân bằng từ bi;
và lửa si bằng trí tuệ
dẫn đến sự thể nhập.
Đã dập tắt ba ngọn lửa, tỉnh giác,
không mệt mỏi ngày đêm,
họ hoàn toàn tịch diệt,
vượt trọn khổ đau.
Bậc thấy Thánh Đế, bậc chủ tri kiến,
người sáng suốt, hiểu biết chân chánh,
trực nhận sự chấm dứt tái sanh,
không còn trở lại đời sau.\"
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tayome, bhikkhave, aggī.
Katame tayo?
Rāgaggi, dosaggi, mohaggi—
ime kho, bhikkhave, tayo aggī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Rāgaggi dahati macce,
ratte kāmesu mucchite;
Dosaggi pana byāpanne,
nare pāṇātipātino.
Mohaggi pana sammūḷhe,
ariyadhamme akovide;
Ete aggī ajānantā,
sakkāyābhiratā pajā.
Te vaḍḍhayanti nirayaṁ,
tiracchānañca yoniyo;
Asuraṁ pettivisayaṁ,
amuttā mārabandhanā.
Ye ca rattindivā yuttā,
sammāsambuddhasāsane;
Te nibbāpenti rāgaggiṁ,
niccaṁ asubhasaññino.
Dosaggiṁ pana mettāya,
nibbāpenti naruttamā;
Mohaggiṁ pana paññāya,
yāyaṁ nibbedhagāminī.
Te nibbāpetvā nipakā,
rattindivamatanditā;
Asesaṁ parinibbanti,
asesaṁ dukkhamaccaguṁ.
Ariyaddasā vedaguno,
sammadaññāya paṇḍitā;
Jātikkhayamabhiññāya,
nāgacchanti punabbhavan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three fires. What three? The fire of lust, the fire of hate, and the fire of delusion. These, bhikkhus, are the three fires.”
The fire of lust burns mortals
Infatuated by sensual pleasures;
The fire of hate burns malevolent people
Who kill other living beings;
The fire of delusion burns the bewildered,
Ignorant of the Noble One’s Dhamma.
Being unaware of these three fires,
Humankind delights in personal existence.
Unfree from the bonds of Māra
They swell the ranks of hell,
Existence in the animal realm,
Asura-demons and the sphere of ghosts.
But those engaged in practising
The Buddha’s teaching day and night
Ever perceiving the body’s foulness,
Extinguish the fire of lust.
Those best of humans by loving-kindness
Extinguish the fire of hate,
And they extinguish the fire of delusion
By wisdom that leads to penetration.
Having extinguished these fires,
Unwearied night and day,
Those discerning ones attain Nibbāna
And overcome all suffering.
The noble seers, masters of knowledge,
Wise ones with perfect understanding,
By directly knowing the end of birth
Come no more to renewal of being.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
\"Này các tỳ-kheo, có ba loại lửa.
Ba loại nào?
Lửa tham, lửa sân, và lửa si.
Đây là ba loại lửa.\"
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
\"Lửa tham đốt cháy phàm nhân,
đắm say, mê muội bởi dục lạc;
trong khi rơi vào lửa sân,
người ấy sát hại chúng sanh;
và bị mê lầm bởi lửa si,
họ bỏ lỡ giáo pháp bậc Thánh.
Không nhận ra ba ngọn lửa này,
người ta bị cuốn vào thực tại hữu vi.
Họ đầy ắp hàng ngũ địa ngục,
cõi súc sanh,
a-tu-la và ngạ quỷ,
chưa thoát khỏi xiềng xích Ma Vương.
Nhưng những ai ngày đêm tận tụy
với giáo pháp Đức Phật:
họ dập tắt lửa tham,
luôn quán bất tịnh;
trong khi bậc thượng nhân
dập tắt lửa sân bằng từ bi;
và lửa si bằng trí tuệ
dẫn đến sự thể nhập.
Đã dập tắt ba ngọn lửa, tỉnh giác,
không mệt mỏi ngày đêm,
họ hoàn toàn tịch diệt,
vượt trọn khổ đau.
Bậc thấy Thánh Đế, bậc chủ tri kiến,
người sáng suốt, hiểu biết chân chánh,
trực nhận sự chấm dứt tái sanh,
không còn trở lại đời sau.\"
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tayome, bhikkhave, aggī.
Katame tayo?
Rāgaggi, dosaggi, mohaggi—
ime kho, bhikkhave, tayo aggī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Rāgaggi dahati macce,
ratte kāmesu mucchite;
Dosaggi pana byāpanne,
nare pāṇātipātino.
Mohaggi pana sammūḷhe,
ariyadhamme akovide;
Ete aggī ajānantā,
sakkāyābhiratā pajā.
Te vaḍḍhayanti nirayaṁ,
tiracchānañca yoniyo;
Asuraṁ pettivisayaṁ,
amuttā mārabandhanā.
Ye ca rattindivā yuttā,
sammāsambuddhasāsane;
Te nibbāpenti rāgaggiṁ,
niccaṁ asubhasaññino.
Dosaggiṁ pana mettāya,
nibbāpenti naruttamā;
Mohaggiṁ pana paññāya,
yāyaṁ nibbedhagāminī.
Te nibbāpetvā nipakā,
rattindivamatanditā;
Asesaṁ parinibbanti,
asesaṁ dukkhamaccaguṁ.
Ariyaddasā vedaguno,
sammadaññāya paṇḍitā;
Jātikkhayamabhiññāya,
nāgacchanti punabbhavan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.