Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
“Giả sử một người đang bị cuốn theo một dòng sông có vẻ mát mẻ và dễ chịu.
Nếu một người có mắt sáng nhìn thấy họ, người ấy sẽ nói:
‘Này bạn, mặc dù dòng sông cuốn bạn đi có vẻ mát mẻ và dễ chịu, nhưng ở hạ lưu có một hồ nước với những con sóng lớn và vực xoáy, có cá sấu nước mặn và thủy quái. Khi đến đó, bạn sẽ bị chết hoặc chịu đau đớn tột cùng.’
Khi nghe thấy lời nói đó, người kia sẽ dùng tay và chân để bơi ngược dòng.
Ta dùng ví dụ này để chỉ ra một ý nghĩa.
Và đây là ý nghĩa đó.
‘Dòng sông’ là một từ chỉ cho ái dục.
‘Mát mẻ và dễ chịu’ là từ chỉ cho sáu nội xứ căn (sáu giác quan).
‘Hồ nước ở hạ lưu’ là từ chỉ cho năm hạ phần kiết sử.
‘Sự nguy hiểm của sóng lớn’ là từ chỉ cho phẫn nộ và oán ghét.
‘Vực xoáy’ là từ chỉ cho năm thứ kích thích dục lạc.
‘Cá sấu nước mặn và thủy quái’ là từ chỉ cho nữ sắc.
‘Bơi ngược dòng’ là từ chỉ cho sự ly tham từ bỏ.
‘Dùng chân và tay để bơi ngược’ là từ chỉ cho sự nỗ lực tinh tấn.
‘Người có mắt sáng’ là từ chỉ cho Đức Như Lai, bậc Toàn Giác, vị Phật Chánh Đẳng Giác viên mãn.”
Đức Thế Tôn đã thuyết về sự việc này.
Và đây là điều ngài đã thi kệ:
“Khổ sầu thay họ sẽ đánh rơi nhả dục phẩm,
hít thở khát mong ngày tới cho chốn tựa ách gông giải trừ.
Tâm rộng mở tuyệt siêu khai trí cùng sự rũ dây tơ,
họ ngộ tận thấu triệt nguồn giác khắp diệu thâm.
Đấng làm chủ tịnh trí tuệ ấy kẻ đã đi lọt luồng dòng tịnh luân giải,
băng cùng hết cho mọi bến sinh chốn tuyệt, được ngợi thế là đấng ‘bậc tới vành dứt bặt biên cương’.”
Đây cũng là sự việc đã được Đức Thế Tôn thuyết dạy: đó là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso nadiyā sotena ovuyheyya piyarūpasātarūpena.
Tamenaṁ cakkhumā puriso tīre ṭhito disvā evaṁ vadeyya:
‘kiñcāpi kho tvaṁ, ambho purisa, nadiyā sotena ovuyhasi piyarūpasātarūpena, atthi cettha heṭṭhā rahado saūmi sāvaṭṭo sagaho sarakkhaso yaṁ tvaṁ, ambho purisa, rahadaṁ pāpuṇitvā maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso tassa purisassa saddaṁ sutvā hatthehi ca pādehi ca paṭisotaṁ vāyameyya.
Upamā kho me ayaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya.
Ayañcettha attho:
‘nadiyā soto’ti kho, bhikkhave, taṇhāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘Piyarūpaṁ sātarūpan’ti kho, bhikkhave, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Heṭṭhā rahado’ti kho, bhikkhave, pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Ūmibhayan’ti kho, bhikkhave, kodhupāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Āvaṭṭan’ti kho, bhikkhave, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ.
‘Gaharakkhaso’ti kho, bhikkhave, mātugāmassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Paṭisoto’ti kho, bhikkhave, nekkhammassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Hatthehi ca pādehi ca vāyāmo’ti kho, bhikkhave, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Cakkhumā puriso tīre ṭhito’ti kho, bhikkhave, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Sahāpi dukkhena jaheyya kāme,
Yogakkhemaṁ āyatiṁ patthayāno;
Sammappajāno suvimuttacitto,
Vimuttiyā phassaye tattha tattha;
Sa vedagū vūsitabrahmacariyo,
Lokantagū pāragatoti vuccatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
This was said by the Lord…
“Suppose, bhikkhus, a man was being borne along by the current of a river that seemed pleasant and agreeable. But upon seeing him, a keen-sighted man standing on the bank would call out to him: ‘Hey, good man! Although you are being borne along by the current of a river that seems pleasant and agreeable, lower down there is a pool with turbulent waves and swirling eddies, with monsters and demons. On reaching that pool you will die or suffer close to death.’ Then, bhikkhus, upon hearing the words of that person, that man would struggle against the current with hands and feet.
“I have made use of this simile, bhikkhus, to illustrate the meaning. And this is the meaning here: ‘The current of the river’ is a synonym for craving. ‘Seeming pleasant and agreeable’ is a synonym for the six internal sense-bases. ‘The pool lower down’ is a synonym for the five lower fetters.‘Turbulent waves’ is a synonym for anger and frustration. ‘Swirling eddies’ is a synonym for the five strands of sensual pleasure. ‘Monsters and demons’ is a synonym for womenfolk. ‘Against the current’ is a synonym for renunciation. ‘Struggling with hands and feet’ is a synonym for instigating energy. ‘The keen-sighted man standing on the bank’ is a synonym for the Tathāgata, the Arahant, the Fully Enlightened One.”
Desiring future security from bondage
One should abandon sensual desire
However painful this may be.
Rightly comprehending with wisdom,
Possessing a mind that is well released,
One may reach freedom step by step.
One who is a master of knowledge,
Who has lived the holy life,
Is called one gone to the world’s end,
One who has reached the further shore.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
“Giả sử một người đang bị cuốn theo một dòng sông có vẻ mát mẻ và dễ chịu.
Nếu một người có mắt sáng nhìn thấy họ, người ấy sẽ nói:
‘Này bạn, mặc dù dòng sông cuốn bạn đi có vẻ mát mẻ và dễ chịu, nhưng ở hạ lưu có một hồ nước với những con sóng lớn và vực xoáy, có cá sấu nước mặn và thủy quái. Khi đến đó, bạn sẽ bị chết hoặc chịu đau đớn tột cùng.’
Khi nghe thấy lời nói đó, người kia sẽ dùng tay và chân để bơi ngược dòng.
Ta dùng ví dụ này để chỉ ra một ý nghĩa.
Và đây là ý nghĩa đó.
‘Dòng sông’ là một từ chỉ cho ái dục.
‘Mát mẻ và dễ chịu’ là từ chỉ cho sáu nội xứ căn (sáu giác quan).
‘Hồ nước ở hạ lưu’ là từ chỉ cho năm hạ phần kiết sử.
‘Sự nguy hiểm của sóng lớn’ là từ chỉ cho phẫn nộ và oán ghét.
‘Vực xoáy’ là từ chỉ cho năm thứ kích thích dục lạc.
‘Cá sấu nước mặn và thủy quái’ là từ chỉ cho nữ sắc.
‘Bơi ngược dòng’ là từ chỉ cho sự ly tham từ bỏ.
‘Dùng chân và tay để bơi ngược’ là từ chỉ cho sự nỗ lực tinh tấn.
‘Người có mắt sáng’ là từ chỉ cho Đức Như Lai, bậc Toàn Giác, vị Phật Chánh Đẳng Giác viên mãn.”
Đức Thế Tôn đã thuyết về sự việc này.
Và đây là điều ngài đã thi kệ:
“Khổ sầu thay họ sẽ đánh rơi nhả dục phẩm,
hít thở khát mong ngày tới cho chốn tựa ách gông giải trừ.
Tâm rộng mở tuyệt siêu khai trí cùng sự rũ dây tơ,
họ ngộ tận thấu triệt nguồn giác khắp diệu thâm.
Đấng làm chủ tịnh trí tuệ ấy kẻ đã đi lọt luồng dòng tịnh luân giải,
băng cùng hết cho mọi bến sinh chốn tuyệt, được ngợi thế là đấng ‘bậc tới vành dứt bặt biên cương’.”
Đây cũng là sự việc đã được Đức Thế Tôn thuyết dạy: đó là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso nadiyā sotena ovuyheyya piyarūpasātarūpena.
Tamenaṁ cakkhumā puriso tīre ṭhito disvā evaṁ vadeyya:
‘kiñcāpi kho tvaṁ, ambho purisa, nadiyā sotena ovuyhasi piyarūpasātarūpena, atthi cettha heṭṭhā rahado saūmi sāvaṭṭo sagaho sarakkhaso yaṁ tvaṁ, ambho purisa, rahadaṁ pāpuṇitvā maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso tassa purisassa saddaṁ sutvā hatthehi ca pādehi ca paṭisotaṁ vāyameyya.
Upamā kho me ayaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya.
Ayañcettha attho:
‘nadiyā soto’ti kho, bhikkhave, taṇhāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘Piyarūpaṁ sātarūpan’ti kho, bhikkhave, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Heṭṭhā rahado’ti kho, bhikkhave, pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Ūmibhayan’ti kho, bhikkhave, kodhupāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Āvaṭṭan’ti kho, bhikkhave, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ.
‘Gaharakkhaso’ti kho, bhikkhave, mātugāmassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Paṭisoto’ti kho, bhikkhave, nekkhammassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Hatthehi ca pādehi ca vāyāmo’ti kho, bhikkhave, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Cakkhumā puriso tīre ṭhito’ti kho, bhikkhave, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Sahāpi dukkhena jaheyya kāme,
Yogakkhemaṁ āyatiṁ patthayāno;
Sammappajāno suvimuttacitto,
Vimuttiyā phassaye tattha tattha;
Sa vedagū vūsitabrahmacariyo,
Lokantagū pāragatoti vuccatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.