Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
"Ai chưa buông xả tham, sân và si
được gọi là chưa vượt qua biển cả với sóng dữ và xoáy nước, với cá sấu và quái vật.
Ai đã buông xả tham, sân và si
được gọi là đã vượt qua biển cả với sóng dữ và xoáy nước, với cá sấu và quái vật. Đã vượt qua và đến bờ bên kia, vị Bà-la-môn ấy đứng trên đất vững chắc."
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
"Những ai mà tham, sân và si
đã tan biến,
đã vượt qua biển cả khó vượt,
với cá sấu và quái vật, với sóng dữ và hiểm nguy.
Họ đã thoát khỏi xiềng xích, từ bỏ tử thần, không còn chấp trước.
Họ đã xả bỏ khổ đau, nên không còn đời sau.
Họ đã biến mất và không thể định nghĩa;
họ đã khiến Thần Chết bối rối, Ta nói vậy."
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atiṇṇo samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ’.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atari samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Yassa rāgo ca doso ca,
Avijjā ca virājitā;
Somaṁ samuddaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ,
Saūmibhayaṁ duttaraṁ accatāri.
Saṅgātigo maccujaho nirūpadhi,
Pahāsi dukkhaṁ apunabbhavāya;
Atthaṅgato so na pamāṇameti,
Amohayi maccurājanti brūmī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Puññaṁ cakkhu atha indriyāni,
Addhā ca caritaṁ duve soci;
Muno atha rāgaduve,
Puna vaggamāhu dutiyamuttamanti.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, any bhikkhu or bhikkhunī in whom attachment is not abandoned, hate is not abandoned, and delusion is not abandoned, is said to be one who has not crossed the ocean with its waves, breakers, and eddies, with its sharks and demons. But any bhikkhu or bhikkhunī in whom attachment is abandoned, hate is abandoned, and delusion is abandoned, is said to be one who has crossed the ocean with its waves, breakers, and eddies, its sharks and demons—one of whom it is said: ‘Crossed over, gone beyond, the brahmin stands on dry ground.’”
One who has destroyed attachment
Along with hate and ignorance
Has crossed this ocean
With its sharks and demons,
Its fearful waves so hard to cross.
He has surmounted every tie,
Left Death behind,
Become free from clinging,
Forsaken suffering and renewal of being.
Vanished, he cannot be defined, I say—
He has bewildered the King of Death.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
"Ai chưa buông xả tham, sân và si
được gọi là chưa vượt qua biển cả với sóng dữ và xoáy nước, với cá sấu và quái vật.
Ai đã buông xả tham, sân và si
được gọi là đã vượt qua biển cả với sóng dữ và xoáy nước, với cá sấu và quái vật. Đã vượt qua và đến bờ bên kia, vị Bà-la-môn ấy đứng trên đất vững chắc."
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
"Những ai mà tham, sân và si
đã tan biến,
đã vượt qua biển cả khó vượt,
với cá sấu và quái vật, với sóng dữ và hiểm nguy.
Họ đã thoát khỏi xiềng xích, từ bỏ tử thần, không còn chấp trước.
Họ đã xả bỏ khổ đau, nên không còn đời sau.
Họ đã biến mất và không thể định nghĩa;
họ đã khiến Thần Chết bối rối, Ta nói vậy."
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atiṇṇo samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ’.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atari samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Yassa rāgo ca doso ca,
Avijjā ca virājitā;
Somaṁ samuddaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ,
Saūmibhayaṁ duttaraṁ accatāri.
Saṅgātigo maccujaho nirūpadhi,
Pahāsi dukkhaṁ apunabbhavāya;
Atthaṅgato so na pamāṇameti,
Amohayi maccurājanti brūmī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Puññaṁ cakkhu atha indriyāni,
Addhā ca caritaṁ duve soci;
Muno atha rāgaduve,
Puna vaggamāhu dutiyamuttamanti.