Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, ai mà tham chưa được đoạn trừ, sân chưa được đoạn trừ, si chưa được đoạn trừ, thì được gọi là đang ở trong trói buộc của Ma Vương; vị ấy bị mắc vào lưới bẫy của Ma Vương và ở dưới quyền lực của Ác Ma.
“Này các tỳ-kheo, ai mà tham đã được đoạn trừ, sân đã được đoạn trừ, si đã được đoạn trừ, thì được gọi là thoát khỏi trói buộc của Ma Vương; vị ấy đã vất bỏ lưới bẫy của Ma Vương và không ở dưới quyền lực của Ác Ma.”
Ai đã đoạn trừ tham
Cùng với sân và si
Được gọi là bậc nội tâm viên mãn,
Một Như Lai thành tựu tối thượng,
Giác ngộ, vượt thoát oán thù và sợ hãi,
Bậc đã đoạn tận tất cả.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘baddho mārassa paṭimukkassa mārapāso yathākāmakaraṇīyo pāpimato’.
Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘abaddho mārassa omukkassa mārapāso na yathākāmakaraṇīyo pāpimato’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Yassa rāgo ca doso ca,
avijjā ca virājitā;
Taṁ bhāvitattaññataraṁ,
brahmabhūtaṁ tathāgataṁ;
Buddhaṁ verabhayātītaṁ,
āhu sabbappahāyinan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Navamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, one in whom attachment is not abandoned, hate is not abandoned, and delusion is not abandoned, is said to be in the bondage of Māra; he is caught in Māra’s noose and at the mercy of the Evil One.
“Bhikkhus, one in whom attachment is abandoned, hate is abandoned, and delusion is abandoned, is said to be free from the bondage of Māra; he has cast off Māra’s noose and is not at the mercy of the Evil One.”
One who has destroyed attachment
Along with hate and ignorance
Is called one inwardly developed,
A Tathāgata become supreme,
Awakened, past enmity and fear,
One who has abandoned all.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, ai mà tham chưa được đoạn trừ, sân chưa được đoạn trừ, si chưa được đoạn trừ, thì được gọi là đang ở trong trói buộc của Ma Vương; vị ấy bị mắc vào lưới bẫy của Ma Vương và ở dưới quyền lực của Ác Ma.
“Này các tỳ-kheo, ai mà tham đã được đoạn trừ, sân đã được đoạn trừ, si đã được đoạn trừ, thì được gọi là thoát khỏi trói buộc của Ma Vương; vị ấy đã vất bỏ lưới bẫy của Ma Vương và không ở dưới quyền lực của Ác Ma.”
Ai đã đoạn trừ tham
Cùng với sân và si
Được gọi là bậc nội tâm viên mãn,
Một Như Lai thành tựu tối thượng,
Giác ngộ, vượt thoát oán thù và sợ hãi,
Bậc đã đoạn tận tất cả.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘baddho mārassa paṭimukkassa mārapāso yathākāmakaraṇīyo pāpimato’.
Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘abaddho mārassa omukkassa mārapāso na yathākāmakaraṇīyo pāpimato’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Yassa rāgo ca doso ca,
avijjā ca virājitā;
Taṁ bhāvitattaññataraṁ,
brahmabhūtaṁ tathāgataṁ;
Buddhaṁ verabhayātītaṁ,
āhu sabbappahāyinan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Navamaṁ.