Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, thành tựu hai pháp, vị tỳ-kheo sống bất an ngay trong đời này, tự chuốc lấy phiền não, khốn khổ và bức bách, và khi thân hoại mạng chung, có thể dự đoán cảnh giới ác. Hai pháp ấy là gì? Không phòng hộ các căn và ăn uống không tiết độ. Đó là hai pháp mà vị tỳ-kheo sống bất an…”
Mắt, tai, mũi, lưỡi,
Thân và cả ý—
Vị tỳ-kheo nào để các căn
Không được phòng hộ ở đây,
Ăn uống không tiết độ,
Các căn không được chế ngự,
Vị ấy chịu khổ đau
Cả thân lẫn tâm.
Thân bị khổ não,
Tâm cũng bị khổ não,
Vị ấy sống bất an
Cả ngày lẫn đêm.
(…) Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme dukkhaṁ viharati savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ;
kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā.
Katamehi dvīhi?
Indriyesu aguttadvāratāya ca, bhojane amattaññutāya ca.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme dukkhaṁ viharati savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ;
kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Cakkhu sotañca ghānañca,
jivhā kāyo tathā mano;
Etāni yassa dvārāni,
aguttāni ca bhikkhuno.
Bhojanamhi amattaññū,
indriyesu asaṁvuto;
Kāyadukkhaṁ cetodukkhaṁ,
dukkhaṁ so adhigacchati.
Ḍayhamānena kāyena,
Ḍayhamānena cetasā;
Divā vā yadi vā rattiṁ,
Dukkhaṁ viharati tādiso”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, possessed of two things, a bhikkhu lives in discomfort here and now, bringing upon himself vexation, trouble, and distress, and when the body perishes after death a bad bourn is to be expected. What are the two? Being unguarded regarding the doors of the senses and being immoderate in eating. These are the two things possessed of which a bhikkhu lives in discomfort…”
The eye, ear, nose, tongue,
Body and likewise the mind—
A bhikkhu who leaves these doors
Unguarded here,
Immoderate in eating,
Of uncontrolled senses,
Experiences suffering
Both bodily and mental.
Being tormented by body,
And tormented by mind,
Such a one lives in discomfort
Both by day and by night.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, thành tựu hai pháp, vị tỳ-kheo sống bất an ngay trong đời này, tự chuốc lấy phiền não, khốn khổ và bức bách, và khi thân hoại mạng chung, có thể dự đoán cảnh giới ác. Hai pháp ấy là gì? Không phòng hộ các căn và ăn uống không tiết độ. Đó là hai pháp mà vị tỳ-kheo sống bất an…”
Mắt, tai, mũi, lưỡi,
Thân và cả ý—
Vị tỳ-kheo nào để các căn
Không được phòng hộ ở đây,
Ăn uống không tiết độ,
Các căn không được chế ngự,
Vị ấy chịu khổ đau
Cả thân lẫn tâm.
Thân bị khổ não,
Tâm cũng bị khổ não,
Vị ấy sống bất an
Cả ngày lẫn đêm.
(…) Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme dukkhaṁ viharati savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ;
kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā.
Katamehi dvīhi?
Indriyesu aguttadvāratāya ca, bhojane amattaññutāya ca.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme dukkhaṁ viharati savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ;
kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Cakkhu sotañca ghānañca,
jivhā kāyo tathā mano;
Etāni yassa dvārāni,
aguttāni ca bhikkhuno.
Bhojanamhi amattaññū,
indriyesu asaṁvuto;
Kāyadukkhaṁ cetodukkhaṁ,
dukkhaṁ so adhigacchati.
Ḍayhamānena kāyena,
Ḍayhamānena cetasā;
Divā vā yadi vā rattiṁ,
Dukkhaṁ viharati tādiso”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.