Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, ai không trực tiếp biết và liễu tri kiêu mạn, không tách rời tâm khỏi nó và đoạn trừ nó, thì không có khả năng diệt tận khổ đau. Nhưng ai đã trực tiếp biết và liễu tri kiêu mạn, đã tách rời tâm khỏi nó và đoạn trừ nó, thì có khả năng diệt tận khổ đau.”
Nhân loại bị kiêu mạn chi phối,
Bị kiêu mạn trói buộc và ưa thích hiện hữu;
Không liễu tri kiêu mạn trọn vẹn,
Họ lại trở về tái sinh.
Nhưng những ai đã đoạn trừ kiêu mạn,
Và nhờ diệt tận kiêu mạn mà giải thoát,
Đã chiến thắng sự trói buộc của kiêu mạn
Và vượt thoát mọi khổ đau.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Mānaṁ, bhikkhave, anabhijānaṁ aparijānaṁ tattha cittaṁ avirājayaṁ appajahaṁ abhabbo dukkhakkhayāya.
Mānañca kho, bhikkhave, abhijānaṁ parijānaṁ tattha cittaṁ virājayaṁ pajahaṁ bhabbo dukkhakkhayāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mānupetā ayaṁ pajā,
mānaganthā bhave ratā;
Mānaṁ aparijānantā,
āgantāro punabbhavaṁ.
Ye ca mānaṁ pahantvāna,
vimuttā mānasaṅkhaye;
Te mānaganthābhibhuno,
sabbadukkhamupaccagun”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Aṭṭhamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, one who has not directly known and fully understood conceit, who has not detached his mind from it and abandoned it, is incapable of destroying suffering. But one who has directly known and fully understood conceit, and who has detached his mind from it and abandoned it, is capable of destroying suffering.”
Humankind is possessed by conceit,
Bound by conceit and delighted with being;
Not fully understanding conceit,
They come again to renewal of being.
But those who have abandoned conceit,
And who by destroying conceit are freed,
Have conquered the bondage of conceit
And overcome all suffering.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, ai không trực tiếp biết và liễu tri kiêu mạn, không tách rời tâm khỏi nó và đoạn trừ nó, thì không có khả năng diệt tận khổ đau. Nhưng ai đã trực tiếp biết và liễu tri kiêu mạn, đã tách rời tâm khỏi nó và đoạn trừ nó, thì có khả năng diệt tận khổ đau.”
Nhân loại bị kiêu mạn chi phối,
Bị kiêu mạn trói buộc và ưa thích hiện hữu;
Không liễu tri kiêu mạn trọn vẹn,
Họ lại trở về tái sinh.
Nhưng những ai đã đoạn trừ kiêu mạn,
Và nhờ diệt tận kiêu mạn mà giải thoát,
Đã chiến thắng sự trói buộc của kiêu mạn
Và vượt thoát mọi khổ đau.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Mānaṁ, bhikkhave, anabhijānaṁ aparijānaṁ tattha cittaṁ avirājayaṁ appajahaṁ abhabbo dukkhakkhayāya.
Mānañca kho, bhikkhave, abhijānaṁ parijānaṁ tattha cittaṁ virājayaṁ pajahaṁ bhabbo dukkhakkhayāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mānupetā ayaṁ pajā,
mānaganthā bhave ratā;
Mānaṁ aparijānantā,
āgantāro punabbhavaṁ.
Ye ca mānaṁ pahantvāna,
vimuttā mānasaṅkhaye;
Te mānaganthābhibhuno,
sabbadukkhamupaccagun”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Aṭṭhamaṁ.