Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại tư duy bất thiện. Ba loại ấy là gì? Tư duy về việc không bị khinh thường; tư duy về lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng; tư duy về sự dính líu vào việc của người khác. Này các tỳ-kheo, đó là ba loại tư duy bất thiện.”
Kẻ bận tâm chuyện không bị khinh thường,
Về lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng,
Và ưa thích sự giao du
Còn xa với sự đoạn tận kiết sử.
Nhưng đã từ bỏ con cái và bầy đàn
Đời sống gia đình và tài sản,
Vị tỳ-kheo như vậy có thể đạt
Sự giác ngộ tối thượng.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tayome, bhikkhave, akusalavitakkā.
Katame tayo?
Anavaññattipaṭisaṁyutto vitakko, lābhasakkārasilokapaṭisaṁyutto vitakko, parānuddayatāpaṭisaṁyutto vitakko.
Ime kho, bhikkhave, tayo akusalavitakkā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Anavaññattisaṁyutto,
lābhasakkāragāravo;
Sahanandī amaccehi,
ārā saṁyojanakkhayā.
Yo ca puttapasuṁ hitvā,
Vivāhe saṁharāni ca;
Bhabbo so tādiso bhikkhu,
Phuṭṭhuṁ sambodhimuttaman”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three kinds of unwholesome thoughts. What three? A thought concerned with not being despised; a thought concerned with gain, honour, and fame; a thought concerned with involvement in the affairs of others. These, bhikkhus, are the three kinds of unwholesome thoughts.”
One concerned with not being despised,
With gain, honour, and esteem,
And who delights in companionship
Is far from the destruction of fetters.
But having abandoned sons and herds
Family life and possessions,
Such a bhikkhu can attain
Enlightenment which is supreme.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, có ba loại tư duy bất thiện. Ba loại ấy là gì? Tư duy về việc không bị khinh thường; tư duy về lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng; tư duy về sự dính líu vào việc của người khác. Này các tỳ-kheo, đó là ba loại tư duy bất thiện.”
Kẻ bận tâm chuyện không bị khinh thường,
Về lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng,
Và ưa thích sự giao du
Còn xa với sự đoạn tận kiết sử.
Nhưng đã từ bỏ con cái và bầy đàn
Đời sống gia đình và tài sản,
Vị tỳ-kheo như vậy có thể đạt
Sự giác ngộ tối thượng.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tayome, bhikkhave, akusalavitakkā.
Katame tayo?
Anavaññattipaṭisaṁyutto vitakko, lābhasakkārasilokapaṭisaṁyutto vitakko, parānuddayatāpaṭisaṁyutto vitakko.
Ime kho, bhikkhave, tayo akusalavitakkā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Anavaññattisaṁyutto,
lābhasakkāragāravo;
Sahanandī amaccehi,
ārā saṁyojanakkhayā.
Yo ca puttapasuṁ hitvā,
Vivāhe saṁharāni ca;
Bhabbo so tādiso bhikkhu,
Phuṭṭhuṁ sambodhimuttaman”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.