Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Hãy sống vui thích viễn ly, này các tỳ-kheo; hãy sống hoan hỷ trong viễn ly, hãy tu tập sự tĩnh lặng nội tâm, không xao lãng thiền định, có tuệ quán, và thường lui tới những nơi vắng vẻ. Nếu các ông sống vui thích viễn ly, này các tỳ-kheo, … và thường lui tới những nơi vắng vẻ, thì một trong hai quả có thể được kỳ vọng: chánh trí ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư sót phiền não, thì quả vị Bất Hoàn.”
Những bậc tĩnh lặng tâm, sáng suốt,
Chánh niệm, chuyên tâm thiền định,
Thấy rõ các pháp đúng đắn
Và không khao khát dục lạc.
Những bậc an tịnh, vui thích tinh cần,
Thấy sự nguy hiểm trong phóng dật,
Không có khả năng thối chuyển
Và gần với Niết-bàn.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Paṭisallānārāmā, bhikkhave, viharatha paṭisallānaratā, ajjhattaṁ cetosamathamanuyuttā, anirākatajjhānā, vipassanāya samannāgatā, brūhetāro suññāgārānaṁ.
Paṭisallānārāmānaṁ, bhikkhave, viharataṁ paṭisallānaratānaṁ ajjhattaṁ cetosamathamanuyuttānaṁ anirākatajjhānānaṁ vipassanāya samannāgatānaṁ brūhetānaṁ suññāgārānaṁ dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Ye santacittā nipakā,
satimanto ca jhāyino;
Sammā dhammaṁ vipassanti,
kāmesu anapekkhino.
Appamādaratā santā,
pamāde bhayadassino;
Abhabbā parihānāya,
nibbānasseva santike”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Aṭṭhamaṁ.
This was said by the Lord…
“Live enjoying seclusion, bhikkhus; live delighting in seclusion, engage in practising inner mental tranquillity, not neglecting meditation, possessing insight, and frequenting empty places. If you live enjoying seclusion, bhikkhus, … and frequenting empty places, one of two fruits is to be expected: final knowledge here and now or, there being some residual defilement, the state of non-returning.”
Those of peaceful mind, discerning,
Mindful, given to meditation,
Clearly see things rightly
And long not for sensual pleasures.
Those peaceful ones, delighting in diligence,
Who see fear in negligence,
Are incapable of falling away
And are close to Nibbāna.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Hãy sống vui thích viễn ly, này các tỳ-kheo; hãy sống hoan hỷ trong viễn ly, hãy tu tập sự tĩnh lặng nội tâm, không xao lãng thiền định, có tuệ quán, và thường lui tới những nơi vắng vẻ. Nếu các ông sống vui thích viễn ly, này các tỳ-kheo, … và thường lui tới những nơi vắng vẻ, thì một trong hai quả có thể được kỳ vọng: chánh trí ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư sót phiền não, thì quả vị Bất Hoàn.”
Những bậc tĩnh lặng tâm, sáng suốt,
Chánh niệm, chuyên tâm thiền định,
Thấy rõ các pháp đúng đắn
Và không khao khát dục lạc.
Những bậc an tịnh, vui thích tinh cần,
Thấy sự nguy hiểm trong phóng dật,
Không có khả năng thối chuyển
Và gần với Niết-bàn.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Paṭisallānārāmā, bhikkhave, viharatha paṭisallānaratā, ajjhattaṁ cetosamathamanuyuttā, anirākatajjhānā, vipassanāya samannāgatā, brūhetāro suññāgārānaṁ.
Paṭisallānārāmānaṁ, bhikkhave, viharataṁ paṭisallānaratānaṁ ajjhattaṁ cetosamathamanuyuttānaṁ anirākatajjhānānaṁ vipassanāya samannāgatānaṁ brūhetānaṁ suññāgārānaṁ dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Ye santacittā nipakā,
satimanto ca jhāyino;
Sammā dhammaṁ vipassanti,
kāmesu anapekkhino.
Appamādaratā santā,
pamāde bhayadassino;
Abhabbā parihānāya,
nibbānasseva santike”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Aṭṭhamaṁ.