BJT 577“Vị tỳ khưu, vì nguyên nhân thiền tịnh, nên tới lui chỗ trú ngụ vắng vẻ, ít tiếng ồn, được lai vãng bởi các thú dữ.
BJT 578Sau khi mang lại từ đống rác, từ bãi tha ma, và từ những đường lộ, từ đó sau khi thực hiện y hai lớp, nên mặc y thô xấu.
BJT 579Sau khi làm cho tâm hạ thấp xuống, vị tỳ khưu nên đi khất thực theo tuần tự từ nhà này đến nhà khác, có cánh cửa (của các giác quan) được canh phòng, khéo được thu thúc.
BJT 580Nên hoan hỷ với vật dầu tồi tàn, không nên mong mỏi nhiều vị nếm khác. Đối với vị bị tham đắm ở các vị nếm, tâm của vị ấy không thích thú trong việc tham thiền.
BJT 581Vị hiền trí nên sống, có ít ham muốn, và tự hoan hỷ (tri túc), được tách biệt, và không giao tiếp với cả hai hạng tại gia và xuất gia.
BJT 582Người ngu hoặc người câm như thế nào, nên phô bày bản thân như thế ấy, bậc sáng trí không nên giảng giải ở giữa hội chúng quá dài thời gian.
BJT 583Vị ấy không nên khiển trách bất cứ người nào, nên tránh xa việc hãm hại, được thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, và nên biết chừng mực về vật thực.
BJT 584Được rành rẽ về việc làm sanh khởi đối với tâm, đối với hiện tướng đã được nắm lấy, nên gắn bó với chỉ tịnh và minh sát đúng theo thời điểm.
BJT 585Được đầy đủ sự liên tục về tinh tấn, nên luôn luôn có sự tu luyện được gắn bó, và khi chưa đạt đến sự chấm dứt của khổ, vị sáng trí không nên đi đến sự quả quyết.
BJT 586Đối với vị tỳ khưu có ước muốn về sự thanh tịnh, trong khi sống như vậy, tất cả các lậu hoặc của vị ấy được cạn kiệt, và (vị ấy) chứng đắc sự Tịch Tịnh.”
Đại đức trưởng lão Upasena Vaṅgantaputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Upasena.
“Vivittaṁ appanigghosaṁ,
vāḷamiganisevitaṁ;
Seve senāsanaṁ bhikkhu,
paṭisallānakāraṇā.
Saṅkārapuñjā āhatvā,
susānā rathiyāhi ca;
Tato saṅghāṭikaṁ katvā,
lūkhaṁ dhāreyya cīvaraṁ.
Nīcaṁ manaṁ karitvāna,
sapadānaṁ kulā kulaṁ;
Piṇḍikāya care bhikkhu,
guttadvāro susaṁvuto.
Lūkhenapi vā santusse,
nāññaṁ patthe rasaṁ bahuṁ;
Rasesu anugiddhassa,
jhāne na ramatī mano.
Appiccho ceva santuṭṭho,
pavivitto vase muni;
Asaṁsaṭṭho gahaṭṭhehi,
anāgārehi cūbhayaṁ.
Yathā jaḷo va mūgo va,
attānaṁ dassaye tathā;
Nātivelaṁ sambhāseyya,
saṅghamajjhamhi paṇḍito.
Na so upavade kañci,
upaghātaṁ vivajjaye;
Saṁvuto pātimokkhasmiṁ,
mattaññū cassa bhojane.
Suggahītanimittassa,
cittassuppādakovido;
Samathaṁ anuyuñjeyya,
kālena ca vipassanaṁ.
Vīriyasātaccasampanno,
yuttayogo sadā siyā;
Na ca appatvā dukkhantaṁ,
vissāsaṁ eyya paṇḍito.
Evaṁ viharamānassa,
suddhikāmassa bhikkhuno;
Khīyanti āsavā sabbe,
nibbutiñcādhigacchatī”ti.
… Upaseno vaṅgantaputto thero ….
In order to go on retreat,
a monk should stay in lodgings
that are secluded and quiet,
frequented by beasts of prey.
Having gathered scraps from rubbish heaps,
cemeteries and streets,
and making an outer robe from them,
one should wear that coarse robe.
Humbling their heart,
a mendicant should walk for alms
from family to family indiscriminately,
with sense doors guarded, well-restrained.
They should be content even with coarse food,
not hoping for lots of flavors.
The mind that’s greedy for flavors
doesn’t enjoy absorption.
With few wishes, content,
a sage should live secluded,
mixing with neither
householders nor the homeless.
They should present themselves
as if stupid or dumb;
an astute person would not speak overly long
in the midst of the Saṅgha.
They would not insult anyone,
and would avoid causing damage.
Restrained in the monastic code,
they would eat in moderation.
Expert in the arising of thought,
they would grasp well the pattern of the mind.
They would be devoted to practicing
serenity and discernment at the right time.
Though endowed with energy and persistence,
and always devoted to meditation,
a wise person would not be too sure of themselves,
until they have attained the end of suffering.
For a mendicant who meditates in this way,
longing for purification,
all their defilements wither away,
and they realize quenching.
BJT 577“Vị tỳ khưu, vì nguyên nhân thiền tịnh, nên tới lui chỗ trú ngụ vắng vẻ, ít tiếng ồn, được lai vãng bởi các thú dữ.
BJT 578Sau khi mang lại từ đống rác, từ bãi tha ma, và từ những đường lộ, từ đó sau khi thực hiện y hai lớp, nên mặc y thô xấu.
BJT 579Sau khi làm cho tâm hạ thấp xuống, vị tỳ khưu nên đi khất thực theo tuần tự từ nhà này đến nhà khác, có cánh cửa (của các giác quan) được canh phòng, khéo được thu thúc.
BJT 580Nên hoan hỷ với vật dầu tồi tàn, không nên mong mỏi nhiều vị nếm khác. Đối với vị bị tham đắm ở các vị nếm, tâm của vị ấy không thích thú trong việc tham thiền.
BJT 581Vị hiền trí nên sống, có ít ham muốn, và tự hoan hỷ (tri túc), được tách biệt, và không giao tiếp với cả hai hạng tại gia và xuất gia.
BJT 582Người ngu hoặc người câm như thế nào, nên phô bày bản thân như thế ấy, bậc sáng trí không nên giảng giải ở giữa hội chúng quá dài thời gian.
BJT 583Vị ấy không nên khiển trách bất cứ người nào, nên tránh xa việc hãm hại, được thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, và nên biết chừng mực về vật thực.
BJT 584Được rành rẽ về việc làm sanh khởi đối với tâm, đối với hiện tướng đã được nắm lấy, nên gắn bó với chỉ tịnh và minh sát đúng theo thời điểm.
BJT 585Được đầy đủ sự liên tục về tinh tấn, nên luôn luôn có sự tu luyện được gắn bó, và khi chưa đạt đến sự chấm dứt của khổ, vị sáng trí không nên đi đến sự quả quyết.
BJT 586Đối với vị tỳ khưu có ước muốn về sự thanh tịnh, trong khi sống như vậy, tất cả các lậu hoặc của vị ấy được cạn kiệt, và (vị ấy) chứng đắc sự Tịch Tịnh.”
Đại đức trưởng lão Upasena Vaṅgantaputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Upasena.
“Vivittaṁ appanigghosaṁ,
vāḷamiganisevitaṁ;
Seve senāsanaṁ bhikkhu,
paṭisallānakāraṇā.
Saṅkārapuñjā āhatvā,
susānā rathiyāhi ca;
Tato saṅghāṭikaṁ katvā,
lūkhaṁ dhāreyya cīvaraṁ.
Nīcaṁ manaṁ karitvāna,
sapadānaṁ kulā kulaṁ;
Piṇḍikāya care bhikkhu,
guttadvāro susaṁvuto.
Lūkhenapi vā santusse,
nāññaṁ patthe rasaṁ bahuṁ;
Rasesu anugiddhassa,
jhāne na ramatī mano.
Appiccho ceva santuṭṭho,
pavivitto vase muni;
Asaṁsaṭṭho gahaṭṭhehi,
anāgārehi cūbhayaṁ.
Yathā jaḷo va mūgo va,
attānaṁ dassaye tathā;
Nātivelaṁ sambhāseyya,
saṅghamajjhamhi paṇḍito.
Na so upavade kañci,
upaghātaṁ vivajjaye;
Saṁvuto pātimokkhasmiṁ,
mattaññū cassa bhojane.
Suggahītanimittassa,
cittassuppādakovido;
Samathaṁ anuyuñjeyya,
kālena ca vipassanaṁ.
Vīriyasātaccasampanno,
yuttayogo sadā siyā;
Na ca appatvā dukkhantaṁ,
vissāsaṁ eyya paṇḍito.
Evaṁ viharamānassa,
suddhikāmassa bhikkhuno;
Khīyanti āsavā sabbe,
nibbutiñcādhigacchatī”ti.
… Upaseno vaṅgantaputto thero ….