BJT 360“Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị cách xa khỏi Chánh Pháp, giống như trái đất so với bầu trời.
BJT 361Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị suy giảm về Chánh Pháp, tựa như mặt trăng ở hạ huyền.
BJT 362Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị hao mòn về Chánh Pháp, giống như con cá ở nơi ít nước.
BJT 363Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) không tiến triển trong Chánh Pháp, tựa như hạt giống bị thối ở cánh đồng.
BJT 364Và người nào lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm hân hoan, sau khi tiêu trừ tất cả các lậu hoặc, sau khi chứng ngộ trạng thái không bị chuyển dịch, sau khi đạt được sự an tịnh tuyệt đối, (vị ấy) Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
Đại đức trưởng lão Yasadatta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Yasadatta.
“Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Ārakā hoti saddhammā,
nabhaso pathavī yathā.
Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Parihāyati saddhammā,
kāḷapakkheva candimā.
Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Parisussati saddhamme,
maccho appodake yathā.
Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Na virūhati saddhamme,
khette bījaṁva pūtikaṁ.
Yo ca tuṭṭhena cittena,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Khepetvā āsave sabbe,
sacchikatvā akuppataṁ;
Pappuyya paramaṁ santiṁ,
parinibbātināsavo”ti.
… Yasadatto thero ….
With fault-finding mind, the simpleton
listens to the victor’s instruction.
They’re as far from the true teaching
as the earth is from the sky.
With fault-finding mind, the simpleton
listens to the victor’s instruction.
They fall away from the true teaching,
like the moon in the waning fortnight.
With fault-finding mind, the simpleton
listens to the victor’s instruction.
They wither away in the true teaching,
like a fish in a little puddle.
With fault-finding mind, the simpleton
listens to the victor’s instruction.
They don’t thrive in the true teaching,
like a rotten seed in a field.
But one with contented mind
who listens to the victor’s instruction—
having wiped out all defilements;
having witnessed the unshakable;
having arrived at ultimate peace—
the undefiled are fully extinguished.”
BJT 360“Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị cách xa khỏi Chánh Pháp, giống như trái đất so với bầu trời.
BJT 361Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị suy giảm về Chánh Pháp, tựa như mặt trăng ở hạ huyền.
BJT 362Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị hao mòn về Chánh Pháp, giống như con cá ở nơi ít nước.
BJT 363Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) không tiến triển trong Chánh Pháp, tựa như hạt giống bị thối ở cánh đồng.
BJT 364Và người nào lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm hân hoan, sau khi tiêu trừ tất cả các lậu hoặc, sau khi chứng ngộ trạng thái không bị chuyển dịch, sau khi đạt được sự an tịnh tuyệt đối, (vị ấy) Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
Đại đức trưởng lão Yasadatta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Yasadatta.
“Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Ārakā hoti saddhammā,
nabhaso pathavī yathā.
Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Parihāyati saddhammā,
kāḷapakkheva candimā.
Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Parisussati saddhamme,
maccho appodake yathā.
Upārambhacitto dummedho,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Na virūhati saddhamme,
khette bījaṁva pūtikaṁ.
Yo ca tuṭṭhena cittena,
suṇāti jinasāsanaṁ;
Khepetvā āsave sabbe,
sacchikatvā akuppataṁ;
Pappuyya paramaṁ santiṁ,
parinibbātināsavo”ti.
… Yasadatto thero ….