BJT 423“Tôi bị đắm say với sự kiêu hãnh về dòng dõi, về của cải và về uy quyền. Tôi đã sống, bị đắm say với sự kiêu hãnh về màu da và dáng vóc của thân hình.
BJT 424Bị hủy hoại bởi sự ngã mạn quá lố, ngu dốt, bướng bỉnh, có ngọn cờ (ngã mạn) đã được dương lên, tôi đã nghĩ rằng không có cái gì bằng và hơn được bản thân tôi.
BJT 425Bướng bỉnh vì ngã mạn, không có sự tôn trọng, tôi đã không đảnh lễ bất cứ người nào, dầu là mẹ, và cha, luôn cả những người khác được xem là đáng tôn kính.
BJT 426Sau khi nhìn thấy đấng Hướng Đạo cao cả, bậc Điều Ngự cao quý tối thượng, tựa như mặt trời đang chói sáng, được Hội Chúng tỳ khưu tôn vinh.
BJT 427Sau khi quăng bỏ ngã mạn và kiêu hãnh, với tâm ý vô cùng tịnh tín, tôi đã đê đầu đảnh lễ bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh.
BJT 428Sự ngã mạn quá lố và sự khinh miệt đã được dứt bỏ, đã khéo được xóa sạch, bản ngã ‘tôi là’ đã được trừ tuyệt, tất cả ngã mạn các loại đã được tiêu diệt.”
Đại đức trưởng lão Jenta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Jenta.
“Jātimadena mattohaṁ,
bhogaissariyena ca;
Saṇṭhānavaṇṇarūpena,
madamatto acārihaṁ.
Nāttano samakaṁ kañci,
atirekaṁ ca maññisaṁ;
Atimānahato bālo,
patthaddho ussitaddhajo.
Mātaraṁ pitarañcāpi,
aññepi garusammate;
Na kañci abhivādesiṁ,
mānatthaddho anādaro.
Disvā vināyakaṁ aggaṁ,
sārathīnaṁ varuttamaṁ;
Tapantamiva ādiccaṁ,
bhikkhusaṅghapurakkhataṁ.
Mānaṁ madañca chaḍḍetvā,
vippasannena cetasā;
Sirasā abhivādesiṁ,
sabbasattānamuttamaṁ.
Atimāno ca omāno,
pahīnā susamūhatā;
Asmimāno samucchinno,
sabbe mānavidhā hatā”ti.
… Jento purohitaputto thero ….
I was drunk with the pride of birth
and wealth and authority.
I wandered about intoxicated
with my own gorgeous body.
No-one was my equal or my better—
or so I thought.
I was such an arrogant fool,
stuck up, waving my own flag.
I never paid homage to anyone:
not even my mother or father,
nor others esteemed as respectable.
I was stiff with pride, lacking regard for others.
When I saw the foremost leader,
the most excellent of charioteers,
shining like the sun,
at the fore of the mendicant Saṅgha,
I discarded conceit and vanity,
and, with a clear and confident heart,
I bowed down with my head
to the most excellent of all beings.
The conceit of superiority and the conceit of inferiority
have been given up and eradicated.
The conceit “I am” is cut off,
and every kind of conceit is destroyed.
BJT 423“Tôi bị đắm say với sự kiêu hãnh về dòng dõi, về của cải và về uy quyền. Tôi đã sống, bị đắm say với sự kiêu hãnh về màu da và dáng vóc của thân hình.
BJT 424Bị hủy hoại bởi sự ngã mạn quá lố, ngu dốt, bướng bỉnh, có ngọn cờ (ngã mạn) đã được dương lên, tôi đã nghĩ rằng không có cái gì bằng và hơn được bản thân tôi.
BJT 425Bướng bỉnh vì ngã mạn, không có sự tôn trọng, tôi đã không đảnh lễ bất cứ người nào, dầu là mẹ, và cha, luôn cả những người khác được xem là đáng tôn kính.
BJT 426Sau khi nhìn thấy đấng Hướng Đạo cao cả, bậc Điều Ngự cao quý tối thượng, tựa như mặt trời đang chói sáng, được Hội Chúng tỳ khưu tôn vinh.
BJT 427Sau khi quăng bỏ ngã mạn và kiêu hãnh, với tâm ý vô cùng tịnh tín, tôi đã đê đầu đảnh lễ bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh.
BJT 428Sự ngã mạn quá lố và sự khinh miệt đã được dứt bỏ, đã khéo được xóa sạch, bản ngã ‘tôi là’ đã được trừ tuyệt, tất cả ngã mạn các loại đã được tiêu diệt.”
Đại đức trưởng lão Jenta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Jenta.
“Jātimadena mattohaṁ,
bhogaissariyena ca;
Saṇṭhānavaṇṇarūpena,
madamatto acārihaṁ.
Nāttano samakaṁ kañci,
atirekaṁ ca maññisaṁ;
Atimānahato bālo,
patthaddho ussitaddhajo.
Mātaraṁ pitarañcāpi,
aññepi garusammate;
Na kañci abhivādesiṁ,
mānatthaddho anādaro.
Disvā vināyakaṁ aggaṁ,
sārathīnaṁ varuttamaṁ;
Tapantamiva ādiccaṁ,
bhikkhusaṅghapurakkhataṁ.
Mānaṁ madañca chaḍḍetvā,
vippasannena cetasā;
Sirasā abhivādesiṁ,
sabbasattānamuttamaṁ.
Atimāno ca omāno,
pahīnā susamūhatā;
Asmimāno samucchinno,
sabbe mānavidhā hatā”ti.
… Jento purohitaputto thero ….