BJT 335“Lành thay! Quả đúng vậy mẹ của tôi đã giơ lên cây roi đầu nhọn. Sau khi lắng nghe lời nói của bà, được nhắc nhở bởi đấng sanh thành, tôi có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tính cương quyết, đã đạt đến sự giác ngộ tối thượng.
BJT 336Tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, có ba Minh, đã nhìn thấy sự Bất Tử. Sau khi chiến thắng đạo binh của Namuci (Ma Vương), tôi sống, không có lậu hoặc.
BJT 337Các lậu hoặc nào của tôi đã được tìm thấy ở bên trong và bên ngoài, tất cả, không thiếu sót, đã được trừ tuyệt và không sanh lên lại nữa.
BJT 338Người chị, quả có lòng tự tín, đã nói về sự việc này: ‘Sự không ham muốn quả nhiên cũng có ở nơi chị, và sự tham ái không tìm thấy ở nơi em.’
BJT 339Khổ đau đã được làm cho chấm dứt; đây là xác thân sau chót có sự luân hồi sanh tử, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Đại đức trưởng lão Vaḍḍha đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Vaḍḍha.
“Sādhū hi kira me mātā,
Patodaṁ upadaṁsayi;
Yassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
Anusiṭṭho janettiyā;
Āraddhavīriyo pahitatto,
Patto sambodhimuttamaṁ.
Arahā dakkhiṇeyyomhi,
tevijjo amataddaso;
Jetvā namucino senaṁ,
viharāmi anāsavo.
Ajjhattañca bahiddhā ca,
ye me vijjiṁsu āsavā;
Sabbe asesā ucchinnā,
na ca uppajjare puna.
Visāradā kho bhaginī,
etamatthaṁ abhāsayi;
‘Apihā nūna mayipi,
vanatho te na vijjati’.
Pariyantakataṁ dukkhaṁ,
antimoyaṁ samussayo;
Jātimaraṇasaṁsāro,
natthi dāni punabbhavo”ti.
… Vaḍḍho thero ….
Oh so well was the goad
shown to me by my mother,
on hearing whose words,
advised by my mother,
energetic and resolute,
I realized supreme awakening.
I’m perfected, worthy of offerings,
master of the three knowledges, seer of freedom from death.
I’ve conquered the army of Namuci,
and live without defilements.
Those defilements that were found in me,
internally and externally,
are all cut off without remainder,
and will not arise again.
My self-assured sister
said this to me:
‘Now neither you nor I
have any snarls.’
Suffering is at an end;
this bag of bones is my last
in the transmigration through births and deaths;
now there’ll be no more future lives.”
BJT 335“Lành thay! Quả đúng vậy mẹ của tôi đã giơ lên cây roi đầu nhọn. Sau khi lắng nghe lời nói của bà, được nhắc nhở bởi đấng sanh thành, tôi có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tính cương quyết, đã đạt đến sự giác ngộ tối thượng.
BJT 336Tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, có ba Minh, đã nhìn thấy sự Bất Tử. Sau khi chiến thắng đạo binh của Namuci (Ma Vương), tôi sống, không có lậu hoặc.
BJT 337Các lậu hoặc nào của tôi đã được tìm thấy ở bên trong và bên ngoài, tất cả, không thiếu sót, đã được trừ tuyệt và không sanh lên lại nữa.
BJT 338Người chị, quả có lòng tự tín, đã nói về sự việc này: ‘Sự không ham muốn quả nhiên cũng có ở nơi chị, và sự tham ái không tìm thấy ở nơi em.’
BJT 339Khổ đau đã được làm cho chấm dứt; đây là xác thân sau chót có sự luân hồi sanh tử, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Đại đức trưởng lão Vaḍḍha đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Vaḍḍha.
“Sādhū hi kira me mātā,
Patodaṁ upadaṁsayi;
Yassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
Anusiṭṭho janettiyā;
Āraddhavīriyo pahitatto,
Patto sambodhimuttamaṁ.
Arahā dakkhiṇeyyomhi,
tevijjo amataddaso;
Jetvā namucino senaṁ,
viharāmi anāsavo.
Ajjhattañca bahiddhā ca,
ye me vijjiṁsu āsavā;
Sabbe asesā ucchinnā,
na ca uppajjare puna.
Visāradā kho bhaginī,
etamatthaṁ abhāsayi;
‘Apihā nūna mayipi,
vanatho te na vijjati’.
Pariyantakataṁ dukkhaṁ,
antimoyaṁ samussayo;
Jātimaraṇasaṁsāro,
natthi dāni punabbhavo”ti.
… Vaḍḍho thero ….