BJT 1221“Thật vậy, trong khi tôi ra đi, rời nhà sống không nhà, những ý nghĩ suy tầm táo bạo này, từ sự tăm tối, đeo đuổi tôi.
BJT 1222Những người con trai hung bạo, những cung thủ vĩ đại, đã được học tập, có cây cung vững chắc, có thể bắn ra xung quanh một ngàn mũi tên đến (tôi), tôi (cũng) không đào tẩu.
BJT 1223Thậm chí, nếu nhiều hơn chừng ấy phụ nữ sẽ đi đến, họ cũng sẽ không bao giờ làm cho tôi, người đã khéo được đứng vững ở Giáo Pháp, nao núng.
BJT 1224Bởi vì điều này đã do tôi đích thân nghe được về Đạo Lộ đi đến Niết Bàn của đức Phật, vị thân quyến của mặt trời; tâm tôi đã được thích thú về điều ấy.
BJT 1225Này kẻ xấu xa, nếu ngươi đến gần ta trong lúc ta đang sống như vầy, này Thần Chết, ta sẽ làm cho ngươi sẽ không nhìn thấy ngay cả đường đi của ta.
BJT 1226Sau khi từ bỏ toàn bộ sự ghét bỏ, sự ưa thích, và mọi suy tầm liên hệ đến gia đình, không nên thể hiện tham ái ở bất cứ đâu. Xa lìa tham ái, không có tham ái, vị ấy là tỳ khưu.
BJT 1227Bất cứ vật gì ở nơi này, ở trái đất và ở không trung, đã đạt đến hình thể, bị gắn chặt với thế gian, tất cả đều là vô thường, bị hư hoại; những người đã lãnh hội như vậy, sống, có bản thân đã được cảm nhận.
BJT 1228Chúng sanh bị cột trói vào các mầm tái sanh, vào điều đã được thấy, được nghe, được chạm đến, và được cảm nhận. Ở đây, ngươi hãy xua đuổi lòng ham muốn, trở thành người không còn dục vọng, bởi vì ở đây người nào không bị lấm lem (bởi ái dục), người ta đã gọi vị ấy là bậc hiền trí.
BJT 1229Chúng sanh có sự suy tầm liên quan đến sáu mươi hai (tà kiến) đã bị dính líu vào các điều phi pháp thuộc về phàm nhân. Và nên là người không theo phe nhóm ở bất cứ nơi đâu, thêm nữa không có việc nắm lấy sự thô tục, vị ấy là tỳ khưu.
BJT 1230Có khả năng, được định tĩnh lâu dài, không xảo trá, thận trọng, không tham ái, bậc hiền trí đã chứng đắc vị thế an tịnh, chờ đợi thời điểm, tùy duyên viên tịch Niết Bàn.
BJT 1231Này vị (dòng dõi) Gotama, ngươi hãy dứt bỏ ngã mạn, và hãy từ bỏ hoàn toàn đường lối của ngã mạn. Bị say đắm ở đường lối của ngã mạn, ngươi đã có sự ân hận dài lâu.
BJT 1232Bị nhơ bẩn bởi sự gièm pha, bị hãm hại bởi ngã mạn, chúng sanh rơi vào địa ngục. Bị hãm hại bởi ngã mạn, bị sanh vào địa ngục, loài người sầu muộn dài lâu.
BJT 1233Bởi vì vị tỳ khưu không bao giờ sầu muộn, là người chiến thắng nhờ vào Đạo Lộ, đã thực hành đúng đắn, và thọ hưởng danh tiếng và sự an lạc, người ta đã gọi vị ấy là: ‘Bậc đã thấy pháp.’
BJT 1234Vì thế, (hãy là) không cứng nhắc, có sự ra sức, sau khi từ bỏ các pháp che lấp, được thanh tịnh, và sau khi từ bỏ hoàn toàn ngã mạn, là người tạo ra sự chấm dứt nhờ vào (ba) Minh, có sự yên tịnh.
BJT 1235Tôi bị thiêu đốt bởi sự luyến ái ở các dục, tâm của tôi bị thiêu đốt toàn diện. Thưa vị (dòng dõi) Gotama, vì lòng thương xót, lành thay, hãy nói về việc dập tắt.
BJT 1236Vì sự tầm cầu sai trái của tưởng, tâm của ngươi bị thiêu đốt toàn diện. Ngươi hãy tránh xa hiện tướng mỹ miều, được gắn liền với luyến ái.
BJT 1237Ngươi hãy nhìn thấy các hành là cái khác, là khổ đau, và chớ là bản ngã. Ngươi hãy dập tắt sự luyến ái lớn lao. Chớ để bị thiêu đốt lần này lần khác.
BJT 1238Ngươi hãy tu tập tâm được chuyên nhất, khéo được định tĩnh, về (đề mục) tử thi. Đối với ngươi, hãy có niệm được đặt ở thân, hãy có nhiều sự nhàm chán.
BJT 1239Ngươi hãy tu tập về vô tướng, hãy dẹp bỏ sự tiềm ẩn của ngã mạn, sau đó, nhờ vào sự lãnh hội về ngã mạn, ngươi sẽ sống, được an tịnh.
BJT 1240Nên nói chỉ lời nói ấy thôi, với lời nói ấy không làm cho bản thân nóng nảy, và không hãm hại người khác; đúng vậy lời nói ấy đã được khéo nói.
BJT 1241Nên nói chỉ mỗi lời êm ái, là lời nói được hoan hỷ đón nhận. Nên nói lời êm ái là lời nói không đem đến các điều ác xấu cho những người khác.
BJT 1242Đúng vậy, chân thật là lời nói bất tử, điều ấy là quy luật muôn đời. Những người tốt đã được đứng vững ở sự thật, ở mục đích, và ở Giáo Pháp đã nói (như thế).
BJT 1243Lời đức Phật nói là an toàn, đưa đến sự đạt được Niết Bàn, đưa đến sự thực hiện việc chấm dứt khổ đau; đúng vậy lời nói ấy là tối thượng.
BJT 1244Có tuệ thâm sâu, thông minh, rành rẽ về đạo lộ và không phải đạo lộ, vị Sāriputta, có trí tuệ vĩ đại, thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị tỳ khưu.
BJT 1245Vị ấy cũng thuyết giảng tóm tắt, cũng thuyết giảng chi tiết. Với âm thanh như là của chim sáo, vị ấy đã nói lên tài biện luận.
BJT 1246Trong khi vị ấy đang thuyết giảng điều ấy, mọi người lắng nghe lời nói ngọt ngào, với âm điệu đáng yêu, đáng được nghe, có sự thu hút. Các vị tỳ khưu có tâm hướng thượng, hoan hỷ, lắng tai nghe.
BJT 1247Hôm nay, ngày rằm, năm trăm vị tỳ khưu, là các vị ẩn sĩ có sự cắt đứt những sự trói buộc và những điều ràng buộc, không bị khổ sở, có việc tái sanh lần nữa đã được cạn kiệt, đã tụ hội vì sự thanh tịnh (của hội chúng).
BJT 1248Giống như đức Chuyển Luân Vương, được tháp tùng bởi các quan đại thần, đi vòng quanh khắp nơi ở trái đất có biển cả bao bọc này.
BJT 1249Tương tự như vậy, các vị Thinh Văn có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, hầu cận vị Chiến Thắng trận đấu, người Hướng Dẫn đoàn xe, bậc Vô Thượng.
BJT 1250Tất cả những người con trai của đức Thế Tôn, ở đây không có kẻ vô vị. Tôi đảnh lễ đấng tiêu diệt mũi tên tham ái, vị thân quyến của mặt trời.
BJT 1251Hơn một ngàn vị tỳ khưu hầu cận đấng Thiện Thệ trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp xa lìa luyến ái, Niết Bàn, chốn không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 1252Các vị lắng nghe Giáo Pháp không ô nhiễm, được thuyết giảng bởi đấng Chánh Đẳng Giác. Thật vậy, đấng Toàn Giác chiếu sáng, được hội chúng tỳ khưu tôn vinh.
BJT 1253Bạch đức Thế Tôn, Ngài có tên là Long Tượng, vị ẩn sĩ tối thượng trong số các ẩn sĩ, sau khi trở thành như là đám mây lớn, Ngài đổ mưa xuống các đệ tử.
BJT 1254Sau khi rời khỏi chỗ nghỉ ban ngày vì ước muốn diện kiến bậc Đạo Sư, bạch đấng Đại Hùng, đệ tử Vangīsa đảnh lễ các bàn chân của Ngài.
BJT 1255Sau khi khắc phục đạo lộ và đường lối sai trái của Ma Vương, Ngài bước đi sau khi đã phá tan các chướng ngại. Các vị hãy nhìn xem đức Phật, với việc thực hiện sự giải thoát khỏi các sự trói buộc, hoàn toàn không bị lệ thuộc, sau khi đã phân tích (Giáo Pháp) thành từng phần riêng biệt.
BJT 1256Bởi vì Ngài đã nói lên Đạo Lộ có nhiều cách thức với mục đích vượt qua dòng nước lũ, và khi Bất Tử ấy đã được nói lên, các vị đã thấy Pháp được đứng vững, không bị tiêu hoại.
BJT 1257Bậc tạo ra ánh sáng, sau khi thấu triệt Giáo Pháp, đã nhìn thấy (Niết Bàn) sự vượt lên trên tất cả các sự tồn tại (của nhận thức). Sau khi biết được và chứng ngộ (Giáo Pháp) cao quý, Ngài đã thuyết giảng cho năm vị.
BJT 1258Khi Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng như vậy, có sự xao lãng gì đối với các vị đang nhận thức Giáo Pháp? Chính vì thế, vị không xao lãng, trong lúc đang lễ bái, nên luôn luôn học tập theo lời giáo huấn của đức Thế Tôn ấy.
BJT 1259Vị trưởng lão đã được giác ngộ kế tiếp đức Phật là vị có sự nỗ lực sắc bén Koṇḍañña, thường xuyên có sự đạt được các lạc trú và các sự ẩn cư.
BJT 1260Pháp nào có thể đạt được bởi vị đệ tử có sự thực hành theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư, pháp ấy, tất cả cảc vị không bị xao lãng, đã được học tập, đều đạt được.
BJT 1261Có đại oai lực, có ba Minh, thiện xảo về tâm của người khác, vị Koṇḍañña, người thừa tự của đức Phật, đảnh lễ các bàn chân của bậc Đạo Sư.
BJT 1262Các vị Thinh Văn, có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, hầu cận bậc Hiền Trí, vị đã đi đến bờ kia của khổ đau, đang ngồi ở sườn của ngọn núi.
BJT 1263Vị Moggallāna, có đại thần lực, quán sát bằng tâm, trong khi tìm kiếm tâm đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh của các vị ấy.
BJT 1264Các vị hầu cận đấng Hiền Trí Gotama, bậc đã được thành tựu tất cả các yếu tố như vậy, đã đi đến bờ kia của khổ đau, đã được thành tựu nhiều biểu hiện.
BJT 1265Bạch Ngài Aṅgīrasa, bậc Đại Hiền Trí, giống như mặt trăng ở bầu trời không có mây đen, tựa như mặt trời không có vết nhơ chiếu sáng, cũng tương tự như vậy, Ngài rực rỡ hơn tất cả thế gian về danh vọng.
BJT 1266Trước đây, say mê thơ văn, chúng tôi đã lang thang từ làng này đến làng khác, từ phố này đến phố khác, và chúng tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp.
BJT 1267Bậc Hiền Trí ấy, vị đã đi đến bờ kia của khổ đau, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp, niềm tin đã sanh khởi đến chúng tôi.
BJT 1268Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, sau khi hiểu rõ về (năm) uẩn, (mười hai) xứ, và (mười tám) giới, tôi đã xuất gia, sống đời không nhà.
BJT 1269Thật vậy, các đức Như Lai hiện khởi vì lợi ích của số đông, của những người nữ và những người nam nào là những người thực hành theo Giáo Pháp.
BJT 1270Thật vậy, bậc Hiền Trí đã đạt đến sự Giác Ngộ vì lợi ích của những người ấy, của các vị tỳ khưu và tỳ khưu ni nào đã đạt đến và đã nhìn thấy quy luật.
BJT 1271Vì lòng thương xót chúng sanh, bốn Chân Lý Cao Thượng đã khéo được thuyết giảng bởi đấng Hữu Nhãn, đức Phật, vị thân quyến của mặt trời:
BJT 1272Khổ, sự sanh lên của Khổ, sự vượt qua khỏi Khổ, và Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 1273Những điều này đã được nói lên như vậy, những điều ấy đã được tôi nhìn thấy đúng theo như thế. Mục đích của bản thân đã được tôi thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 1274Quả thật, việc đi đến tốt đẹp đã có cho tôi về việc ở gần với đức Phật của tôi. Trong số các pháp đã được phân loại, tôi đã tiến gần đến pháp tối thượng.
BJT 1275Tôi đã đạt được sự toàn hảo về Thắng Trí, nhĩ giới đã được trong sạch, có ba Minh, tôi đã đạt được thần thông, thiện xảo về tâm của người khác.
BJT 1276Tôi hỏi đấng Đạo Sư, bậc có trí tuệ tột đỉnh, về vị tỳ khưu đã từ trần ở Aggāḷava, là vị đã cắt đứt các sự hoài nghi ở thế giới hiện hữu, được biết tiếng, có danh vọng, có bản thể đã được tịch tịnh.
BJT 1277Bạch đức Thế Tôn, Ngài đã đặt tên ‘Nigrodhakappa’ cho vị Bà-la-môn ấy. Vị ấy, mong mỏi sự giải thoát, trong lúc lễ bái Ngài, đã sống, có sự nỗ lực tinh tấn, có sự nhận thức vững chắc về Giáo Pháp.
BJT 1278Bạch vị Sakya, tất cả chúng con cũng muốn được biết về vị Thinh Văn ấy. Bạch đấng Toàn Nhãn, những lỗ tai của chúng con là sẵn sàng cho việc nghe. Ngài là bậc Đạo Sư của chúng con. Ngài là bậc Vô Thượng.
BJT 1279Xin Ngài hãy cắt đứt sự hoài nghi của chúng con, xin hãy nói cho con điều này. Bạch đấng có trí tuệ quảng đại, xin Ngài hãy cho biết về việc (vị ấy) đã được viên tịch Niết Bàn. Bạch đấng Toàn Nhãn, xin Ngài hãy nói ở ngay giữa chúng con, tựa như vị Trời Sakka có ngàn mắt ở giữa chư Thiên.
BJT 1280Ở đây, bất cứ những mối buộc thắt nào, những con đường của si mê, những phe nhóm của vô trí, những chỗ đứng của hoài nghi, sau khi đạt đến đức Như Lai, chúng đều không tồn tại, bởi vì con mắt ấy là vô thượng giữa những con người.
BJT 1281Bởi vì nếu chắc chắn không có người tiêu diệt các phiền não, giống như làn gió làm tiêu tan đám mây, thì toàn bộ thế gian sẽ bị bao trùm bởi bóng tối, ngay cả những vị có hào quang (trí tuệ) cũng không thể phát sáng.
BJT 1282Và các bậc thông minh là những người tạo ra ánh sáng, vì thế, bạch đấng Anh Hùng, con nghĩ rằng Ngài là y như thế ấy. Chúng con đã đi đến với bậc có sự minh sát và sự hiểu biết, xin Ngài hãy giải thích về vị Kappa cho chúng con ở các hội chúng.
BJT 1283Hỡi bậc có sự thu hút, xin Ngài hãy mau mau thốt lên giọng nói có sự thu hút, tựa như chim thiên nga rướn cổ, xin Ngài hãy dịu dàng thốt lên với âm thanh trọn vẹn khéo được điều khiển; toàn bộ tất cả chúng con đều tập trung lắng nghe.
BJT 1284Sau khi thúc giục bậc có sự sanh tử đã được dứt bỏ không còn dư sót, tôi thông báo đến bậc đã giũ bỏ (phiền não); bởi vì người có thể làm được điều mong muốn không có trong số các phàm nhân, và người hành động đúng theo dự tính chỉ có trong số các đức Như Lai.
BJT 1285Lời giải thích đầy đủ này của Ngài, bậc có trí tuệ ngay thẳng, đã được chấp nhận. Sự chắp tay sau cùng này đã được cúi chào tốt đẹp. Hỡi bậc có trí tuệ tột đỉnh, trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ.
BJT 1286Hỡi đấng Anh Hùng tột bực, Ngài đã hiểu biết về Giáo Pháp cao thượng từ thấp đến cao, trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ. Con mong mỏi lời nói (của Ngài) giống như người có bản thân bị nóng bức trong lúc nóng nực mong mỏi nước; xin Ngài hãy đổ cơn mưa âm thanh.
BJT 1287Phải chăng vị Kappāyana đã sống Phạm hạnh với mục đích tốt đẹp, không phải rỗng không? Có phải vị ấy đã Niết Bàn (không còn dư sót), hay là vẫn còn dư sót? Vị ấy đã được giải thoát như thế nào, hãy cho chúng con được nghe điều ấy.
(Lời của đức Thế Tôn)
BJT 1288‘Vị ấy đã cắt đứt tham ái ở danh và sắc này, dòng nước tham ái đã được tiềm ẩn bấy lâu. Vị ấy đã vượt qua sự sanh và sự chết.’ Đức Thế Tôn, bậc đứng đầu về năm pháp, đã nói như thế.
BJT 1289Bạch bậc Ẩn Sĩ tối thượng, sau khi nghe điều ấy, con tin tưởng vào lời nói của Ngài. Thật vậy, điều đã được con hỏi là không vô ích, vị Bà-la-môn đã không dối gạt con.
BJT 1290Vị có lời nói như thế nào thì có hành động như thế ấy đã là đệ tử của đức Phật. Vị ấy đã cắt đứt tấm lưới chắc chắn của Thần Chết xảo quyệt đã được giăng ra.
BJT 1291Hỡi bậc Tối Thượng của loài người, con đảnh lễ Ngài, vị Trời của chư Thiên, và người con trai của Ngài, đấng hậu duệ, vị đại anh hùng, bậc long tượng, dòng dõi chính thống của loài long tượng.”
Đại đức trưởng lão Vaṅgīsa đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Vaṅgīsa.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Bảy Mươi, vị Vaṅgīsa có tài biện luận là vị trưởng lão độc nhất, không có vị nào khác, các câu kệ là bảy mươi mốt.”
Nhóm Lớn được chấm dứt.
TÓM LƯỢC TÁC PHẨM NÀY
“Các kệ ngôn ấy là một ngàn hai trăm chín mươi mốt câu và các trưởng lão là hai trăm sáu mươi bốn vị đã được biết tiếng. Những người con trai của đức Phật, không còn lậu hoặc, sau khi rống lên tiếng rống của loài sư tử, sau khi đạt được sự an toàn ấy, đã Niết Bàn, tựa như đống lửa đã được diệt tắt.”
TRƯỞNG LÃO KỆ ĐƯỢC CHẤM DỨT.
“Nikkhantaṁ vata maṁ santaṁ,
agārasmānagāriyaṁ;
Vitakkā upadhāvanti,
pagabbhā kaṇhato ime.
Uggaputtā mahissāsā,
sikkhitā daḷhadhammino;
Samantā parikireyyuṁ,
sahassaṁ apalāyinaṁ.
Sacepi ettakā bhiyyo,
āgamissanti itthiyo;
Neva maṁ byādhayissanti,
dhamme samhi patiṭṭhito.
Sakkhī hi me sutaṁ etaṁ,
buddhassādiccabandhuno;
Nibbānagamanaṁ maggaṁ,
tattha me nirato mano.
Evañce maṁ viharantaṁ,
pāpima upagacchasi;
Tathā maccu karissāmi,
na me maggampi dakkhasi.
Aratiñca ratiñca pahāya,
Sabbaso gehasitañca vitakkaṁ;
Vanathaṁ na kareyya kuhiñci,
Nibbanatho avanatho sa bhikkhu.
Yamidha pathaviñca vehāsaṁ,
Rūpagataṁ jagatogadhaṁ kiñci;
Parijīyati sabbamaniccaṁ,
Evaṁ samecca caranti mutattā.
Upadhīsu janā gadhitāse,
Diṭṭhasute paṭighe ca mute ca;
Ettha vinodaya chandamanejo,
Yo hettha na limpati muni tamāhu.
Atha saṭṭhisitā savitakkā,
Puthujjanatāya adhammā niviṭṭhā;
Na ca vaggagatassa kuhiñci,
No pana duṭṭhullagāhī sa bhikkhu.
Dabbo cirarattasamāhito,
Akuhako nipako apihālu;
Santaṁ padaṁ ajjhagamā muni,
Paṭicca parinibbuto kaṅkhati kālaṁ.
Mānaṁ pajahassu gotama,
Mānapathañca jahassu asesaṁ;
Mānapathamhi sa mucchito,
Vippaṭisārīhuvā cirarattaṁ.
Makkhena makkhitā pajā,
Mānahatā nirayaṁ papatanti;
Socanti janā cirarattaṁ,
Mānahatā nirayaṁ upapannā.
Na hi socati bhikkhu kadāci,
Maggajino sammā paṭipanno;
Kittiñca sukhañcānubhoti,
Dhammadasoti tamāhu tathattaṁ.
Tasmā akhilo idha padhānavā,
Nīvaraṇāni pahāya visuddho;
Mānañca pahāya asesaṁ,
Vijjāyantakaro samitāvī”.
“Kāmarāgena ḍayhāmi,
cittaṁ me pariḍayhati;
Sādhu nibbāpanaṁ brūhi,
anukampāya gotama”.
“Saññāya vipariyesā,
cittaṁ te pariḍayhati;
Nimittaṁ parivajjehi,
subhaṁ rāgūpasaṁhitaṁ. (…)
Asubhāya cittaṁ bhāvehi,
ekaggaṁ susamāhitaṁ;
Sati kāyagatā tyatthu,
nibbidābahulo bhava.
Animittañca bhāvehi,
mānānusayamujjaha;
Tato mānābhisamayā,
upasanto carissasi”.
“Tameva vācaṁ bhāseyya,
yāyattānaṁ na tāpaye;
Pare ca na vihiṁseyya,
sā ve vācā subhāsitā.
Piyavācameva bhāseyya,
yā vācā paṭinanditā;
Yaṁ anādāya pāpāni,
paresaṁ bhāsate piyaṁ.
Saccaṁ ve amatā vācā,
esa dhammo sanantano;
Sacce atthe ca dhamme ca,
āhu santo patiṭṭhitā.
Yaṁ buddho bhāsati vācaṁ,
khemaṁ nibbānapattiyā;
Dukkhassantakiriyāya,
sā ve vācānamuttamā”.
“Gambhīrapañño medhāvī,
maggāmaggassa kovido;
Sāriputto mahāpañño,
dhammaṁ deseti bhikkhunaṁ.
Saṅkhittenapi deseti,
vitthārenapi bhāsati;
Sālikāyiva nigghoso,
paṭibhānaṁ udiyyati.
Tassa taṁ desayantassa,
suṇanti madhuraṁ giraṁ;
Sarena rajanīyena,
savanīyena vaggunā;
Udaggacittā muditā,
sotaṁ odhenti bhikkhavo”.
“Ajja pannarase visuddhiyā,
Bhikkhū pañcasatā samāgatā;
Saṁyojanabandhanacchidā,
Anīghā khīṇapunabbhavā isī.
Cakkavattī yathā rājā,
amaccaparivārito;
Samantā anupariyeti,
sāgarantaṁ mahiṁ imaṁ.
Evaṁ vijitasaṅgāmaṁ,
satthavāhaṁ anuttaraṁ;
Sāvakā payirupāsanti,
tevijjā maccuhāyino.
Sabbe bhagavato puttā,
palāpettha na vijjati;
Taṇhāsallassa hantāraṁ,
vande ādiccabandhunaṁ.
Parosahassaṁ bhikkhūnaṁ,
sugataṁ payirupāsati;
Desentaṁ virajaṁ dhammaṁ,
nibbānaṁ akutobhayaṁ.
Suṇanti dhammaṁ vimalaṁ,
sammāsambuddhadesitaṁ;
Sobhati vata sambuddho,
bhikkhusaṅghapurakkhato.
‘Nāganāmo’si bhagavā,
isīnaṁ isisattamo;
Mahāmeghova hutvāna,
sāvake abhivassasi.
Divā vihārā nikkhamma,
satthudassanakamyatā;
Sāvako te mahāvīra,
pāde vandati vaṅgiso”.
“Ummaggapathaṁ mārassa,
Abhibhuyya carati pabhijja khīlāni;
Taṁ passatha bandhapamuñcakaraṁ,
Asitaṁva bhāgaso pavibhajja.
Oghassa hi nitaraṇatthaṁ,
Anekavihitaṁ maggaṁ akkhāsi;
Tasmiñca amate akkhāte,
Dhammadasā ṭhitā asaṁhīrā.
Pajjotakaro ativijjha,
Sabbaṭhitīnaṁ atikkamamaddasa;
Ñatvā ca sacchikatvā ca,
Aggaṁ so desayi dasaddhānaṁ.
Evaṁ sudesite dhamme,
Ko pamādo vijānataṁ dhammaṁ;
Tasmā hi tassa bhagavato sāsane,
Appamatto sadā namassamanusikkhe”.
“Buddhānubuddho yo thero,
koṇḍañño tibbanikkamo;
Lābhī sukhavihārānaṁ,
vivekānaṁ abhiṇhaso.
Yaṁ sāvakena pattabbaṁ,
satthu sāsanakārinā;
Sabbassa taṁ anuppattaṁ,
appamattassa sikkhato.
Mahānubhāvo tevijjo,
cetopariyakovido;
Koṇḍañño buddhadāyādo,
pāde vandati satthuno”.
“Nagassa passe āsīnaṁ,
muniṁ dukkhassa pāraguṁ;
Sāvakā payirupāsanti,
tevijjā maccuhāyino.
Cetasā anupariyeti,
moggallāno mahiddhiko;
Cittaṁ nesaṁ samanvesaṁ,
vippamuttaṁ nirūpadhiṁ.
Evaṁ sabbaṅgasampannaṁ,
muniṁ dukkhassa pāraguṁ;
Anekākārasampannaṁ,
payirupāsanti gotamaṁ”.
“Cando yathā vigatavalāhake nabhe,
Virocati vītamalova bhāṇumā;
Evampi aṅgīrasa tvaṁ mahāmuni,
Atirocasi yasasā sabbalokaṁ”.
“Kāveyyamattā vicarimha pubbe,
Gāmā gāmaṁ purā puraṁ;
Athaddasāma sambuddhaṁ,
Sabbadhammāna pāraguṁ.
So me dhammamadesesi,
muni dukkhassa pāragū;
Dhammaṁ sutvā pasīdimha,
saddhā no udapajjatha.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
khandhe āyatanāni ca;
Dhātuyo ca viditvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Bahūnaṁ vata atthāya,
uppajjanti tathāgatā;
Itthīnaṁ purisānañca,
ye te sāsanakārakā.
Tesaṁ kho vata atthāya,
bodhimajjhagamā muni;
Bhikkhūnaṁ bhikkhunīnañca,
ye nirāmagataddasā.
Sudesitā cakkhumatā,
buddhenādiccabandhunā;
Cattāri ariyasaccāni,
anukampāya pāṇinaṁ.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
Dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
Dukkhūpasamagāminaṁ.
Evamete tathā vuttā,
diṭṭhā me te yathā tathā;
Sadattho me anuppatto,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Svāgataṁ vata me āsi,
mama buddhassa santike;
Suvibhattesu dhammesu,
yaṁ seṭṭhaṁ tadupāgamiṁ.
Abhiññāpāramippatto,
sotadhātu visodhitā;
Tevijjo iddhipattomhi,
cetopariyakovido”.
“Pucchāmi satthāramanomapaññaṁ,
Diṭṭheva dhamme yo vicikicchānaṁ chettā;
Aggāḷave kālamakāsi bhikkhu,
Ñāto yasassī abhinibbutatto.
Nigrodhakappo iti tassa nāmaṁ,
Tayā kataṁ bhagavā brāhmaṇassa;
So taṁ namassaṁ acari mutyapekho,
Āraddhavīriyo daḷhadhammadassī.
Taṁ sāvakaṁ sakka mayampi sabbe,
Aññātumicchāma samantacakkhu;
Samavaṭṭhitā no savanāya sotā,
Tuvaṁ no satthā tvamanuttarosi.
Chinda no vicikicchaṁ brūhi metaṁ,
Parinibbutaṁ vedaya bhūripañña;
Majjheva no bhāsa samantacakkhu,
Sakkova devāna sahassanetto.
Ye keci ganthā idha mohamaggā,
Aññāṇapakkhā vicikicchaṭhānā;
Tathāgataṁ patvā na te bhavanti,
Cakkhuñhi etaṁ paramaṁ narānaṁ.
No ce hi jātu puriso kilese,
Vāto yathā abbhaghanaṁ vihāne;
Tamovassa nivuto sabbaloko,
Jotimantopi na pabhāseyyuṁ.
Dhīrā ca pajjotakarā bhavanti,
Taṁ taṁ ahaṁ vīra tatheva maññe;
Vipassinaṁ jānamupāgamimha,
Parisāsu no āvikarohi kappaṁ.
Khippaṁ giraṁ eraya vaggu vagguṁ,
Haṁsova paggayha saṇikaṁ nikūja;
Bindussarena suvikappitena,
Sabbeva te ujjugatā suṇoma.
Pahīnajātimaraṇaṁ asesaṁ,
Niggayha dhonaṁ vadessāmi dhammaṁ;
Na kāmakāro hi puthujjanānaṁ,
Saṅkheyyakāro ca tathāgatānaṁ.
Sampannaveyyākaraṇaṁ tavedaṁ,
Samujjupaññassa samuggahītaṁ;
Ayamañjali pacchimo suppaṇāmito,
Mā mohayī jānamanomapañña.
Paroparaṁ ariyadhammaṁ viditvā,
Mā mohayī jānamanomavīriya;
Vāriṁ yathā ghammani ghammatatto,
Vācābhikaṅkhāmi sutaṁ pavassa.
Yadatthikaṁ brahmacariyaṁ acarī,
Kappāyano kaccissataṁ amoghaṁ;
Nibbāyi so ādu saupādiseso,
Yathā vimutto ahu taṁ suṇoma”.
“Acchecchi taṇhaṁ idha nāmarūpe,
(iti bhagavā)
Kaṇhassa sotaṁ dīgharattānusayitaṁ;
Atāri jātiṁ maraṇaṁ asesaṁ,
Iccabravi bhagavā pañcaseṭṭho”.
“Esa sutvā pasīdāmi,
vaco te isisattama;
Amoghaṁ kira me puṭṭhaṁ,
na maṁ vañcesi brāhmaṇo.
Yathā vādī tathā kārī,
ahu buddhassa sāvako;
Acchecchi maccuno jālaṁ,
tataṁ māyāvino daḷhaṁ.
Addasa bhagavā ādiṁ,
upādānassa kappiyo;
Accagā vata kappāno,
maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
Taṁ devadevaṁ vandāmi,
puttaṁ te dvipaduttama;
Anujātaṁ mahāvīraṁ,
nāgaṁ nāgassa orasan”ti.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā vaṅgīso thero gāthāyo abhāsitthāti.
Mahānipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Sattatimhi nipātamhi,
vaṅgīso paṭibhāṇavā;
Ekova thero natthañño,
gāthāyo ekasattatīti.
Niṭṭhitā theragāthāyo.
Tatruddānaṁ
Sahassaṁ honti tā gāthā,
tīṇi saṭṭhisatāni ca;
Therā ca dve satā saṭṭhi,
cattāro ca pakāsitā.
Sīhanādaṁ naditvāna,
buddhaputtā anāsavā;
Khemantaṁ pāpuṇitvāna,
aggikhandhāva nibbutāti.
Theragāthāpāḷi niṭṭhitā.
“Now that I’ve gone forth
from the lay life to homelessness,
I’m overrun
by the rude thoughts of the Dark One.
Even if a thousand mighty princes and great archers,
well trained, with strong bows,
were to completely surround me;
I would never flee.
And even if women come,
many more than that,
they won’t bother me,
for I stand firm in the teaching.
I heard this with my own ears
from the Buddha, kinsman of the Sun,
about the path going to extinguishment;
that’s what delights my mind.
Wicked One, if you come near me
as I meditate like this,
I’ll make sure that you, Death,
won’t even see the path I take.”
“Giving up desire and discontent,
along with all thought of domestic life,
they wouldn’t get snarled in anything;
unsnarled, free of snarls: that’s a real mendicant.
Whatever here is included in form—
on earth, in the sky, or in planet’s deep—
wears out, it is all impermanent:
the self-examined live having comprehended this.
People are bound to their attachments,
to impingement of the seen and heard, and to what is thought.
Unstirred, dispel desire for these things;
for one called ‘a sage’ does not cling to them.
Trapped in the sixty wrong views, full of their own opinions,
ordinary people are fixed in wrong principles.
But that mendicant wouldn’t join a sect,
still less would they utter lewd speech.
Clever, long serene,
free of deceit, alert, without envy,
the sage has reached the state of peace;
quenched, he awaits his time.”
“Give up conceit, Gotama!
Completely abandon the different kinds of conceit!
Besotted with the different kinds of conceit,
you’ve had regrets for a long time.
Smeared by smears and slain by conceit,
people fall into hell.
When people slain by conceit are reborn in hell,
they grieve for a long time.
But a mendicant who practices rightly,
a path-victor, never grieves.
They enjoy happiness and a good reputation,
and they rightly call him a ‘Seer of Truth’.
So being not hard-hearted, but energetic,
with hindrances given up, pure;
and having completely given up conceit,
the one who makes an end with knowledge is assuaged.”
“I’ve got a burning desire for pleasure;
my mind is on fire!
Please, out of compassion, Gotama,
tell me how to quench the flames.”
“Your mind is on fire
because of a perversion of perception.
Turn away from the sign
that’s attractive, provoking lust.
With your mind unified and serene,
meditate on the ugly aspects of the body.
With mindfulness immersed in the body,
be full of disillusionment.
Meditate on the signless,
give up the tendency to conceit;
and when you comprehend conceit,
you will live at peace.”
“Speak only such words
that do not hurt yourself
nor harm others;
such speech is truly well spoken.
Speak only pleasing words,
words gladly welcomed.
Pleasing words are those
that bring nothing bad to others.
Truth itself is undying speech:
this is an ancient teaching.
Good people say that the teaching and meaning
are grounded in truth.
The words spoken by the Buddha
for finding the sanctuary, extinguishment,
for making an end of suffering:
this really is the best kind of speech.”
“Deep in wisdom, intelligent,
expert in the path and what is not the path;
Sāriputta, so greatly wise,
teaches Dhamma to the mendicants.
He teaches in brief,
or he speaks at length.
His call, like a myna bird,
overflows with inspiration.
While he teaches
the mendicants listen to his sweet voice,
sounding attractive,
clear and graceful.
They listen joyfully,
their hearts elated.”
“Today, on the fifteenth day sabbath,
five hundred monks have gathered together to purify their precepts.
These untroubled sages have cut off their fetters and bonds,
they will not be reborn again.
Just as a wheel-rolling monarch
surrounded by ministers
travels all around this
land that’s girt by sea.
So disciples with the three knowledges,
conquerors of death,
revere the winner of the battle,
the unsurpassed caravan leader.
All are sons of the Blessed One—
there is no rubbish here.
I bow to the Kinsman of the Sun,
destroyer of the dart of craving.”
“Over a thousand mendicants
revere the Holy One
as he teaches the immaculate Dhamma,
extinguishment, fearing nothing from any quarter.
They listen to the immaculate Dhamma
taught by the fully awakened Buddha;
the Buddha is so brilliant,
at the fore of the mendicant Saṅgha.
Blessed One, your name is ‘Giant’,
seventh of the seers.
You are like a great cloud
that rains on your disciples.
I’ve left my day’s meditation,
out of desire to see the teacher.
Great hero, your disciple Vaṅgīsa
bows at your feet.”
“Having overcome Māra’s wrong path,
you wander with hard-heartedness dissolved.
See him, the liberator from bonds,
dissecting the unattached section by section.
You have explained in many ways
the path to cross the flood.
The Seers of Truth stand unfaltering
in the freedom from death you’ve explained.
As the bringer of light who has pierced the truth,
you’ve seen what lies beyond all planes.
When you saw and realized this for yourself,
you taught it first to the group of five.
When the Dhamma has been so well taught,
how could those who know it be negligent?
That’s why, being diligent, we should always train
respectfully in the Buddha’s teaching.”
“The senior monk awakened after the Buddha,
Koṇḍañña, is keenly energetic.
He regularly gains
the blissful meditations of seclusion.
Whatever can be attained by a disciple
who does the Teacher’s bidding,
he has attained it all,
through diligently training himself.
With great power and the three knowledges,
expert in encompassing the minds of others,
Koṇḍañña, the heir to the Buddha,
bows at the Teacher’s feet.”
“As the sage, who has gone beyond suffering,
sits upon the mountain slope,
he is revered by disciples with the three knowledges,
conquerors of death.
Moggallāna, of great psychic power,
encompasses with his mind,
scrutinizing their minds,
liberated, free of attachments.
That is how those endowed with many fine qualities
revere Gotama,
the sage gone beyond suffering,
perfect in every respect.”
“Like the moon on a cloudless night,
like the shining immaculate sun,
so too Aṅgīrasa, O great sage,
your glory outshines the entire world.”
“We used to wander, drunk on poetry,
from village to village, town to town.
Then we saw the Buddha,
who has gone beyond all things.
He, the sage gone beyond suffering,
taught me the Dhamma.
When we heard the Dhamma, we became confident—
faith arose in us.
Hearing him speak of
the aggregates, the sense-fields,
and the elements, I understood;
and then I went forth to homelessness.
It is for the benefit of many
that the Realized Ones arise—
the men and women
who follow his instructions.
It is truly for their benefit
that the sage realized awakening—
for the monks and for the nuns
who see that they’ve reached certainty.
The Clear-eyed One, the Buddha,
the Kinsman of the Sun,
has well taught the four noble truths
out of sympathy for living creatures.
Suffering, suffering’s origin,
suffering’s transcendence,
and the noble eightfold path
that leads to the stilling of suffering.
As these things were taught,
so I have seen them.
I’ve realized my heart’s goal,
and fulfilled the Buddha’s instructions.
It was so welcome for me
to be in the presence of the Buddha.
Of the well-explained teachings,
I arrived at the best.
I’ve realized the perfection of direct knowledge;
my clairaudience is purified;
I am master of three knowledges, attained in psychic power,
I’m expert at reading the minds of others.”
“I ask the teacher unrivaled in wisdom,
who has cut off all doubts in this very life:
a monk has died at Āḷavī’s premier shrine,
who was well-known, famous, and quenched.
Nigrodhakappa was his name;
it was given to that brahmin by you, Blessed One.
He wandered in your honor, yearning for freedom,
energetic, a resolute Seer of Truth.
O Sakyan, All-seer,
we all wish to know about that disciple.
Our ears are eager to hear,
for you are the most excellent teacher.
Cut off our doubt, declare this to us;
your wisdom is vast, tell us of his quenching!
All-seer, speak among us,
like the thousand-eyed Sakka in the midst of the gods!
Whatever ties there are, or paths to delusion,
or things on the side of unknowing, or that are bases of doubt
vanish on reaching a Realized One,
for his eye is the best of all people’s.
If no man were ever to disperse corruptions,
like the wind dispersing the stormclouds,
darkness would veil the whole world;
not even brilliant men would shine.
The attentive are bringers of light;
my hero, that is what I think of you.
We’ve come for your discernment and knowledge:
here in this assembly, declare to us about Kappāyana.
Swiftly send forth your sweet, sweet voice,
like a goose stretching its neck, gently honking,
lucid-flowing, with lovely tone:
alert, we all listen to you.
You have entirely abandoned birth and death;
restrained and pure, speak the Dhamma!
For ordinary people have no wish-granter,
but Realized Ones have a comprehensibility-granter.
Your answer is definitive, and we will adopt it,
for you have perfect understanding.
We raise our joined palms one last time,
one of unrivaled wisdom, don’t deliberately confuse us.
Knowing the teaching of the noble ones from top to bottom,
one of unrivaled energy, don’t deliberately confuse us.
Like a man in the baking summer sun would long for water,
I long for your voice, so let the sound rain forth.
Surely Kappāyana did not lead the spiritual life in vain?
Did he realize quenching,
or did he still have a residue?
Let us hear what kind of liberation he had!”
“He cut off craving for name and form right here,”
said the Buddha,
“the river of darkness that had long lain within him.
He has entirely crossed over birth and death.”
So declared the Blessed One, the leader of the five.
“Now that I have heard your words,
seventh of seers, I am confident.
My question, it seems, was not in vain,
the brahmin did not deceive me.
As he spoke, so he acted;
he was a disciple of the Buddha.
He cut the net of death the deceiver,
so extended and strong.
Blessed One, Kappāyana saw
the starting point of grasping.
He has indeed gone far beyond
Death’s dominion so hard to pass.
God of gods, best of men, I bow to you,
and to your son,
who followed your example, a great hero;
a giant, true-born son of a giant.”
That is how these verses were recited by the senior venerable Vaṅgīsa.
The Great Book is Finished
The Verses of the Senior Monks are finished.
BJT 1221“Thật vậy, trong khi tôi ra đi, rời nhà sống không nhà, những ý nghĩ suy tầm táo bạo này, từ sự tăm tối, đeo đuổi tôi.
BJT 1222Những người con trai hung bạo, những cung thủ vĩ đại, đã được học tập, có cây cung vững chắc, có thể bắn ra xung quanh một ngàn mũi tên đến (tôi), tôi (cũng) không đào tẩu.
BJT 1223Thậm chí, nếu nhiều hơn chừng ấy phụ nữ sẽ đi đến, họ cũng sẽ không bao giờ làm cho tôi, người đã khéo được đứng vững ở Giáo Pháp, nao núng.
BJT 1224Bởi vì điều này đã do tôi đích thân nghe được về Đạo Lộ đi đến Niết Bàn của đức Phật, vị thân quyến của mặt trời; tâm tôi đã được thích thú về điều ấy.
BJT 1225Này kẻ xấu xa, nếu ngươi đến gần ta trong lúc ta đang sống như vầy, này Thần Chết, ta sẽ làm cho ngươi sẽ không nhìn thấy ngay cả đường đi của ta.
BJT 1226Sau khi từ bỏ toàn bộ sự ghét bỏ, sự ưa thích, và mọi suy tầm liên hệ đến gia đình, không nên thể hiện tham ái ở bất cứ đâu. Xa lìa tham ái, không có tham ái, vị ấy là tỳ khưu.
BJT 1227Bất cứ vật gì ở nơi này, ở trái đất và ở không trung, đã đạt đến hình thể, bị gắn chặt với thế gian, tất cả đều là vô thường, bị hư hoại; những người đã lãnh hội như vậy, sống, có bản thân đã được cảm nhận.
BJT 1228Chúng sanh bị cột trói vào các mầm tái sanh, vào điều đã được thấy, được nghe, được chạm đến, và được cảm nhận. Ở đây, ngươi hãy xua đuổi lòng ham muốn, trở thành người không còn dục vọng, bởi vì ở đây người nào không bị lấm lem (bởi ái dục), người ta đã gọi vị ấy là bậc hiền trí.
BJT 1229Chúng sanh có sự suy tầm liên quan đến sáu mươi hai (tà kiến) đã bị dính líu vào các điều phi pháp thuộc về phàm nhân. Và nên là người không theo phe nhóm ở bất cứ nơi đâu, thêm nữa không có việc nắm lấy sự thô tục, vị ấy là tỳ khưu.
BJT 1230Có khả năng, được định tĩnh lâu dài, không xảo trá, thận trọng, không tham ái, bậc hiền trí đã chứng đắc vị thế an tịnh, chờ đợi thời điểm, tùy duyên viên tịch Niết Bàn.
BJT 1231Này vị (dòng dõi) Gotama, ngươi hãy dứt bỏ ngã mạn, và hãy từ bỏ hoàn toàn đường lối của ngã mạn. Bị say đắm ở đường lối của ngã mạn, ngươi đã có sự ân hận dài lâu.
BJT 1232Bị nhơ bẩn bởi sự gièm pha, bị hãm hại bởi ngã mạn, chúng sanh rơi vào địa ngục. Bị hãm hại bởi ngã mạn, bị sanh vào địa ngục, loài người sầu muộn dài lâu.
BJT 1233Bởi vì vị tỳ khưu không bao giờ sầu muộn, là người chiến thắng nhờ vào Đạo Lộ, đã thực hành đúng đắn, và thọ hưởng danh tiếng và sự an lạc, người ta đã gọi vị ấy là: ‘Bậc đã thấy pháp.’
BJT 1234Vì thế, (hãy là) không cứng nhắc, có sự ra sức, sau khi từ bỏ các pháp che lấp, được thanh tịnh, và sau khi từ bỏ hoàn toàn ngã mạn, là người tạo ra sự chấm dứt nhờ vào (ba) Minh, có sự yên tịnh.
BJT 1235Tôi bị thiêu đốt bởi sự luyến ái ở các dục, tâm của tôi bị thiêu đốt toàn diện. Thưa vị (dòng dõi) Gotama, vì lòng thương xót, lành thay, hãy nói về việc dập tắt.
BJT 1236Vì sự tầm cầu sai trái của tưởng, tâm của ngươi bị thiêu đốt toàn diện. Ngươi hãy tránh xa hiện tướng mỹ miều, được gắn liền với luyến ái.
BJT 1237Ngươi hãy nhìn thấy các hành là cái khác, là khổ đau, và chớ là bản ngã. Ngươi hãy dập tắt sự luyến ái lớn lao. Chớ để bị thiêu đốt lần này lần khác.
BJT 1238Ngươi hãy tu tập tâm được chuyên nhất, khéo được định tĩnh, về (đề mục) tử thi. Đối với ngươi, hãy có niệm được đặt ở thân, hãy có nhiều sự nhàm chán.
BJT 1239Ngươi hãy tu tập về vô tướng, hãy dẹp bỏ sự tiềm ẩn của ngã mạn, sau đó, nhờ vào sự lãnh hội về ngã mạn, ngươi sẽ sống, được an tịnh.
BJT 1240Nên nói chỉ lời nói ấy thôi, với lời nói ấy không làm cho bản thân nóng nảy, và không hãm hại người khác; đúng vậy lời nói ấy đã được khéo nói.
BJT 1241Nên nói chỉ mỗi lời êm ái, là lời nói được hoan hỷ đón nhận. Nên nói lời êm ái là lời nói không đem đến các điều ác xấu cho những người khác.
BJT 1242Đúng vậy, chân thật là lời nói bất tử, điều ấy là quy luật muôn đời. Những người tốt đã được đứng vững ở sự thật, ở mục đích, và ở Giáo Pháp đã nói (như thế).
BJT 1243Lời đức Phật nói là an toàn, đưa đến sự đạt được Niết Bàn, đưa đến sự thực hiện việc chấm dứt khổ đau; đúng vậy lời nói ấy là tối thượng.
BJT 1244Có tuệ thâm sâu, thông minh, rành rẽ về đạo lộ và không phải đạo lộ, vị Sāriputta, có trí tuệ vĩ đại, thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị tỳ khưu.
BJT 1245Vị ấy cũng thuyết giảng tóm tắt, cũng thuyết giảng chi tiết. Với âm thanh như là của chim sáo, vị ấy đã nói lên tài biện luận.
BJT 1246Trong khi vị ấy đang thuyết giảng điều ấy, mọi người lắng nghe lời nói ngọt ngào, với âm điệu đáng yêu, đáng được nghe, có sự thu hút. Các vị tỳ khưu có tâm hướng thượng, hoan hỷ, lắng tai nghe.
BJT 1247Hôm nay, ngày rằm, năm trăm vị tỳ khưu, là các vị ẩn sĩ có sự cắt đứt những sự trói buộc và những điều ràng buộc, không bị khổ sở, có việc tái sanh lần nữa đã được cạn kiệt, đã tụ hội vì sự thanh tịnh (của hội chúng).
BJT 1248Giống như đức Chuyển Luân Vương, được tháp tùng bởi các quan đại thần, đi vòng quanh khắp nơi ở trái đất có biển cả bao bọc này.
BJT 1249Tương tự như vậy, các vị Thinh Văn có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, hầu cận vị Chiến Thắng trận đấu, người Hướng Dẫn đoàn xe, bậc Vô Thượng.
BJT 1250Tất cả những người con trai của đức Thế Tôn, ở đây không có kẻ vô vị. Tôi đảnh lễ đấng tiêu diệt mũi tên tham ái, vị thân quyến của mặt trời.
BJT 1251Hơn một ngàn vị tỳ khưu hầu cận đấng Thiện Thệ trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp xa lìa luyến ái, Niết Bàn, chốn không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 1252Các vị lắng nghe Giáo Pháp không ô nhiễm, được thuyết giảng bởi đấng Chánh Đẳng Giác. Thật vậy, đấng Toàn Giác chiếu sáng, được hội chúng tỳ khưu tôn vinh.
BJT 1253Bạch đức Thế Tôn, Ngài có tên là Long Tượng, vị ẩn sĩ tối thượng trong số các ẩn sĩ, sau khi trở thành như là đám mây lớn, Ngài đổ mưa xuống các đệ tử.
BJT 1254Sau khi rời khỏi chỗ nghỉ ban ngày vì ước muốn diện kiến bậc Đạo Sư, bạch đấng Đại Hùng, đệ tử Vangīsa đảnh lễ các bàn chân của Ngài.
BJT 1255Sau khi khắc phục đạo lộ và đường lối sai trái của Ma Vương, Ngài bước đi sau khi đã phá tan các chướng ngại. Các vị hãy nhìn xem đức Phật, với việc thực hiện sự giải thoát khỏi các sự trói buộc, hoàn toàn không bị lệ thuộc, sau khi đã phân tích (Giáo Pháp) thành từng phần riêng biệt.
BJT 1256Bởi vì Ngài đã nói lên Đạo Lộ có nhiều cách thức với mục đích vượt qua dòng nước lũ, và khi Bất Tử ấy đã được nói lên, các vị đã thấy Pháp được đứng vững, không bị tiêu hoại.
BJT 1257Bậc tạo ra ánh sáng, sau khi thấu triệt Giáo Pháp, đã nhìn thấy (Niết Bàn) sự vượt lên trên tất cả các sự tồn tại (của nhận thức). Sau khi biết được và chứng ngộ (Giáo Pháp) cao quý, Ngài đã thuyết giảng cho năm vị.
BJT 1258Khi Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng như vậy, có sự xao lãng gì đối với các vị đang nhận thức Giáo Pháp? Chính vì thế, vị không xao lãng, trong lúc đang lễ bái, nên luôn luôn học tập theo lời giáo huấn của đức Thế Tôn ấy.
BJT 1259Vị trưởng lão đã được giác ngộ kế tiếp đức Phật là vị có sự nỗ lực sắc bén Koṇḍañña, thường xuyên có sự đạt được các lạc trú và các sự ẩn cư.
BJT 1260Pháp nào có thể đạt được bởi vị đệ tử có sự thực hành theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư, pháp ấy, tất cả cảc vị không bị xao lãng, đã được học tập, đều đạt được.
BJT 1261Có đại oai lực, có ba Minh, thiện xảo về tâm của người khác, vị Koṇḍañña, người thừa tự của đức Phật, đảnh lễ các bàn chân của bậc Đạo Sư.
BJT 1262Các vị Thinh Văn, có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, hầu cận bậc Hiền Trí, vị đã đi đến bờ kia của khổ đau, đang ngồi ở sườn của ngọn núi.
BJT 1263Vị Moggallāna, có đại thần lực, quán sát bằng tâm, trong khi tìm kiếm tâm đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh của các vị ấy.
BJT 1264Các vị hầu cận đấng Hiền Trí Gotama, bậc đã được thành tựu tất cả các yếu tố như vậy, đã đi đến bờ kia của khổ đau, đã được thành tựu nhiều biểu hiện.
BJT 1265Bạch Ngài Aṅgīrasa, bậc Đại Hiền Trí, giống như mặt trăng ở bầu trời không có mây đen, tựa như mặt trời không có vết nhơ chiếu sáng, cũng tương tự như vậy, Ngài rực rỡ hơn tất cả thế gian về danh vọng.
BJT 1266Trước đây, say mê thơ văn, chúng tôi đã lang thang từ làng này đến làng khác, từ phố này đến phố khác, và chúng tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp.
BJT 1267Bậc Hiền Trí ấy, vị đã đi đến bờ kia của khổ đau, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp, niềm tin đã sanh khởi đến chúng tôi.
BJT 1268Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, sau khi hiểu rõ về (năm) uẩn, (mười hai) xứ, và (mười tám) giới, tôi đã xuất gia, sống đời không nhà.
BJT 1269Thật vậy, các đức Như Lai hiện khởi vì lợi ích của số đông, của những người nữ và những người nam nào là những người thực hành theo Giáo Pháp.
BJT 1270Thật vậy, bậc Hiền Trí đã đạt đến sự Giác Ngộ vì lợi ích của những người ấy, của các vị tỳ khưu và tỳ khưu ni nào đã đạt đến và đã nhìn thấy quy luật.
BJT 1271Vì lòng thương xót chúng sanh, bốn Chân Lý Cao Thượng đã khéo được thuyết giảng bởi đấng Hữu Nhãn, đức Phật, vị thân quyến của mặt trời:
BJT 1272Khổ, sự sanh lên của Khổ, sự vượt qua khỏi Khổ, và Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 1273Những điều này đã được nói lên như vậy, những điều ấy đã được tôi nhìn thấy đúng theo như thế. Mục đích của bản thân đã được tôi thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 1274Quả thật, việc đi đến tốt đẹp đã có cho tôi về việc ở gần với đức Phật của tôi. Trong số các pháp đã được phân loại, tôi đã tiến gần đến pháp tối thượng.
BJT 1275Tôi đã đạt được sự toàn hảo về Thắng Trí, nhĩ giới đã được trong sạch, có ba Minh, tôi đã đạt được thần thông, thiện xảo về tâm của người khác.
BJT 1276Tôi hỏi đấng Đạo Sư, bậc có trí tuệ tột đỉnh, về vị tỳ khưu đã từ trần ở Aggāḷava, là vị đã cắt đứt các sự hoài nghi ở thế giới hiện hữu, được biết tiếng, có danh vọng, có bản thể đã được tịch tịnh.
BJT 1277Bạch đức Thế Tôn, Ngài đã đặt tên ‘Nigrodhakappa’ cho vị Bà-la-môn ấy. Vị ấy, mong mỏi sự giải thoát, trong lúc lễ bái Ngài, đã sống, có sự nỗ lực tinh tấn, có sự nhận thức vững chắc về Giáo Pháp.
BJT 1278Bạch vị Sakya, tất cả chúng con cũng muốn được biết về vị Thinh Văn ấy. Bạch đấng Toàn Nhãn, những lỗ tai của chúng con là sẵn sàng cho việc nghe. Ngài là bậc Đạo Sư của chúng con. Ngài là bậc Vô Thượng.
BJT 1279Xin Ngài hãy cắt đứt sự hoài nghi của chúng con, xin hãy nói cho con điều này. Bạch đấng có trí tuệ quảng đại, xin Ngài hãy cho biết về việc (vị ấy) đã được viên tịch Niết Bàn. Bạch đấng Toàn Nhãn, xin Ngài hãy nói ở ngay giữa chúng con, tựa như vị Trời Sakka có ngàn mắt ở giữa chư Thiên.
BJT 1280Ở đây, bất cứ những mối buộc thắt nào, những con đường của si mê, những phe nhóm của vô trí, những chỗ đứng của hoài nghi, sau khi đạt đến đức Như Lai, chúng đều không tồn tại, bởi vì con mắt ấy là vô thượng giữa những con người.
BJT 1281Bởi vì nếu chắc chắn không có người tiêu diệt các phiền não, giống như làn gió làm tiêu tan đám mây, thì toàn bộ thế gian sẽ bị bao trùm bởi bóng tối, ngay cả những vị có hào quang (trí tuệ) cũng không thể phát sáng.
BJT 1282Và các bậc thông minh là những người tạo ra ánh sáng, vì thế, bạch đấng Anh Hùng, con nghĩ rằng Ngài là y như thế ấy. Chúng con đã đi đến với bậc có sự minh sát và sự hiểu biết, xin Ngài hãy giải thích về vị Kappa cho chúng con ở các hội chúng.
BJT 1283Hỡi bậc có sự thu hút, xin Ngài hãy mau mau thốt lên giọng nói có sự thu hút, tựa như chim thiên nga rướn cổ, xin Ngài hãy dịu dàng thốt lên với âm thanh trọn vẹn khéo được điều khiển; toàn bộ tất cả chúng con đều tập trung lắng nghe.
BJT 1284Sau khi thúc giục bậc có sự sanh tử đã được dứt bỏ không còn dư sót, tôi thông báo đến bậc đã giũ bỏ (phiền não); bởi vì người có thể làm được điều mong muốn không có trong số các phàm nhân, và người hành động đúng theo dự tính chỉ có trong số các đức Như Lai.
BJT 1285Lời giải thích đầy đủ này của Ngài, bậc có trí tuệ ngay thẳng, đã được chấp nhận. Sự chắp tay sau cùng này đã được cúi chào tốt đẹp. Hỡi bậc có trí tuệ tột đỉnh, trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ.
BJT 1286Hỡi đấng Anh Hùng tột bực, Ngài đã hiểu biết về Giáo Pháp cao thượng từ thấp đến cao, trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ. Con mong mỏi lời nói (của Ngài) giống như người có bản thân bị nóng bức trong lúc nóng nực mong mỏi nước; xin Ngài hãy đổ cơn mưa âm thanh.
BJT 1287Phải chăng vị Kappāyana đã sống Phạm hạnh với mục đích tốt đẹp, không phải rỗng không? Có phải vị ấy đã Niết Bàn (không còn dư sót), hay là vẫn còn dư sót? Vị ấy đã được giải thoát như thế nào, hãy cho chúng con được nghe điều ấy.
(Lời của đức Thế Tôn)
BJT 1288‘Vị ấy đã cắt đứt tham ái ở danh và sắc này, dòng nước tham ái đã được tiềm ẩn bấy lâu. Vị ấy đã vượt qua sự sanh và sự chết.’ Đức Thế Tôn, bậc đứng đầu về năm pháp, đã nói như thế.
BJT 1289Bạch bậc Ẩn Sĩ tối thượng, sau khi nghe điều ấy, con tin tưởng vào lời nói của Ngài. Thật vậy, điều đã được con hỏi là không vô ích, vị Bà-la-môn đã không dối gạt con.
BJT 1290Vị có lời nói như thế nào thì có hành động như thế ấy đã là đệ tử của đức Phật. Vị ấy đã cắt đứt tấm lưới chắc chắn của Thần Chết xảo quyệt đã được giăng ra.
BJT 1291Hỡi bậc Tối Thượng của loài người, con đảnh lễ Ngài, vị Trời của chư Thiên, và người con trai của Ngài, đấng hậu duệ, vị đại anh hùng, bậc long tượng, dòng dõi chính thống của loài long tượng.”
Đại đức trưởng lão Vaṅgīsa đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Vaṅgīsa.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Bảy Mươi, vị Vaṅgīsa có tài biện luận là vị trưởng lão độc nhất, không có vị nào khác, các câu kệ là bảy mươi mốt.”
Nhóm Lớn được chấm dứt.
TÓM LƯỢC TÁC PHẨM NÀY
“Các kệ ngôn ấy là một ngàn hai trăm chín mươi mốt câu và các trưởng lão là hai trăm sáu mươi bốn vị đã được biết tiếng. Những người con trai của đức Phật, không còn lậu hoặc, sau khi rống lên tiếng rống của loài sư tử, sau khi đạt được sự an toàn ấy, đã Niết Bàn, tựa như đống lửa đã được diệt tắt.”
TRƯỞNG LÃO KỆ ĐƯỢC CHẤM DỨT.
“Nikkhantaṁ vata maṁ santaṁ,
agārasmānagāriyaṁ;
Vitakkā upadhāvanti,
pagabbhā kaṇhato ime.
Uggaputtā mahissāsā,
sikkhitā daḷhadhammino;
Samantā parikireyyuṁ,
sahassaṁ apalāyinaṁ.
Sacepi ettakā bhiyyo,
āgamissanti itthiyo;
Neva maṁ byādhayissanti,
dhamme samhi patiṭṭhito.
Sakkhī hi me sutaṁ etaṁ,
buddhassādiccabandhuno;
Nibbānagamanaṁ maggaṁ,
tattha me nirato mano.
Evañce maṁ viharantaṁ,
pāpima upagacchasi;
Tathā maccu karissāmi,
na me maggampi dakkhasi.
Aratiñca ratiñca pahāya,
Sabbaso gehasitañca vitakkaṁ;
Vanathaṁ na kareyya kuhiñci,
Nibbanatho avanatho sa bhikkhu.
Yamidha pathaviñca vehāsaṁ,
Rūpagataṁ jagatogadhaṁ kiñci;
Parijīyati sabbamaniccaṁ,
Evaṁ samecca caranti mutattā.
Upadhīsu janā gadhitāse,
Diṭṭhasute paṭighe ca mute ca;
Ettha vinodaya chandamanejo,
Yo hettha na limpati muni tamāhu.
Atha saṭṭhisitā savitakkā,
Puthujjanatāya adhammā niviṭṭhā;
Na ca vaggagatassa kuhiñci,
No pana duṭṭhullagāhī sa bhikkhu.
Dabbo cirarattasamāhito,
Akuhako nipako apihālu;
Santaṁ padaṁ ajjhagamā muni,
Paṭicca parinibbuto kaṅkhati kālaṁ.
Mānaṁ pajahassu gotama,
Mānapathañca jahassu asesaṁ;
Mānapathamhi sa mucchito,
Vippaṭisārīhuvā cirarattaṁ.
Makkhena makkhitā pajā,
Mānahatā nirayaṁ papatanti;
Socanti janā cirarattaṁ,
Mānahatā nirayaṁ upapannā.
Na hi socati bhikkhu kadāci,
Maggajino sammā paṭipanno;
Kittiñca sukhañcānubhoti,
Dhammadasoti tamāhu tathattaṁ.
Tasmā akhilo idha padhānavā,
Nīvaraṇāni pahāya visuddho;
Mānañca pahāya asesaṁ,
Vijjāyantakaro samitāvī”.
“Kāmarāgena ḍayhāmi,
cittaṁ me pariḍayhati;
Sādhu nibbāpanaṁ brūhi,
anukampāya gotama”.
“Saññāya vipariyesā,
cittaṁ te pariḍayhati;
Nimittaṁ parivajjehi,
subhaṁ rāgūpasaṁhitaṁ. (…)
Asubhāya cittaṁ bhāvehi,
ekaggaṁ susamāhitaṁ;
Sati kāyagatā tyatthu,
nibbidābahulo bhava.
Animittañca bhāvehi,
mānānusayamujjaha;
Tato mānābhisamayā,
upasanto carissasi”.
“Tameva vācaṁ bhāseyya,
yāyattānaṁ na tāpaye;
Pare ca na vihiṁseyya,
sā ve vācā subhāsitā.
Piyavācameva bhāseyya,
yā vācā paṭinanditā;
Yaṁ anādāya pāpāni,
paresaṁ bhāsate piyaṁ.
Saccaṁ ve amatā vācā,
esa dhammo sanantano;
Sacce atthe ca dhamme ca,
āhu santo patiṭṭhitā.
Yaṁ buddho bhāsati vācaṁ,
khemaṁ nibbānapattiyā;
Dukkhassantakiriyāya,
sā ve vācānamuttamā”.
“Gambhīrapañño medhāvī,
maggāmaggassa kovido;
Sāriputto mahāpañño,
dhammaṁ deseti bhikkhunaṁ.
Saṅkhittenapi deseti,
vitthārenapi bhāsati;
Sālikāyiva nigghoso,
paṭibhānaṁ udiyyati.
Tassa taṁ desayantassa,
suṇanti madhuraṁ giraṁ;
Sarena rajanīyena,
savanīyena vaggunā;
Udaggacittā muditā,
sotaṁ odhenti bhikkhavo”.
“Ajja pannarase visuddhiyā,
Bhikkhū pañcasatā samāgatā;
Saṁyojanabandhanacchidā,
Anīghā khīṇapunabbhavā isī.
Cakkavattī yathā rājā,
amaccaparivārito;
Samantā anupariyeti,
sāgarantaṁ mahiṁ imaṁ.
Evaṁ vijitasaṅgāmaṁ,
satthavāhaṁ anuttaraṁ;
Sāvakā payirupāsanti,
tevijjā maccuhāyino.
Sabbe bhagavato puttā,
palāpettha na vijjati;
Taṇhāsallassa hantāraṁ,
vande ādiccabandhunaṁ.
Parosahassaṁ bhikkhūnaṁ,
sugataṁ payirupāsati;
Desentaṁ virajaṁ dhammaṁ,
nibbānaṁ akutobhayaṁ.
Suṇanti dhammaṁ vimalaṁ,
sammāsambuddhadesitaṁ;
Sobhati vata sambuddho,
bhikkhusaṅghapurakkhato.
‘Nāganāmo’si bhagavā,
isīnaṁ isisattamo;
Mahāmeghova hutvāna,
sāvake abhivassasi.
Divā vihārā nikkhamma,
satthudassanakamyatā;
Sāvako te mahāvīra,
pāde vandati vaṅgiso”.
“Ummaggapathaṁ mārassa,
Abhibhuyya carati pabhijja khīlāni;
Taṁ passatha bandhapamuñcakaraṁ,
Asitaṁva bhāgaso pavibhajja.
Oghassa hi nitaraṇatthaṁ,
Anekavihitaṁ maggaṁ akkhāsi;
Tasmiñca amate akkhāte,
Dhammadasā ṭhitā asaṁhīrā.
Pajjotakaro ativijjha,
Sabbaṭhitīnaṁ atikkamamaddasa;
Ñatvā ca sacchikatvā ca,
Aggaṁ so desayi dasaddhānaṁ.
Evaṁ sudesite dhamme,
Ko pamādo vijānataṁ dhammaṁ;
Tasmā hi tassa bhagavato sāsane,
Appamatto sadā namassamanusikkhe”.
“Buddhānubuddho yo thero,
koṇḍañño tibbanikkamo;
Lābhī sukhavihārānaṁ,
vivekānaṁ abhiṇhaso.
Yaṁ sāvakena pattabbaṁ,
satthu sāsanakārinā;
Sabbassa taṁ anuppattaṁ,
appamattassa sikkhato.
Mahānubhāvo tevijjo,
cetopariyakovido;
Koṇḍañño buddhadāyādo,
pāde vandati satthuno”.
“Nagassa passe āsīnaṁ,
muniṁ dukkhassa pāraguṁ;
Sāvakā payirupāsanti,
tevijjā maccuhāyino.
Cetasā anupariyeti,
moggallāno mahiddhiko;
Cittaṁ nesaṁ samanvesaṁ,
vippamuttaṁ nirūpadhiṁ.
Evaṁ sabbaṅgasampannaṁ,
muniṁ dukkhassa pāraguṁ;
Anekākārasampannaṁ,
payirupāsanti gotamaṁ”.
“Cando yathā vigatavalāhake nabhe,
Virocati vītamalova bhāṇumā;
Evampi aṅgīrasa tvaṁ mahāmuni,
Atirocasi yasasā sabbalokaṁ”.
“Kāveyyamattā vicarimha pubbe,
Gāmā gāmaṁ purā puraṁ;
Athaddasāma sambuddhaṁ,
Sabbadhammāna pāraguṁ.
So me dhammamadesesi,
muni dukkhassa pāragū;
Dhammaṁ sutvā pasīdimha,
saddhā no udapajjatha.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
khandhe āyatanāni ca;
Dhātuyo ca viditvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Bahūnaṁ vata atthāya,
uppajjanti tathāgatā;
Itthīnaṁ purisānañca,
ye te sāsanakārakā.
Tesaṁ kho vata atthāya,
bodhimajjhagamā muni;
Bhikkhūnaṁ bhikkhunīnañca,
ye nirāmagataddasā.
Sudesitā cakkhumatā,
buddhenādiccabandhunā;
Cattāri ariyasaccāni,
anukampāya pāṇinaṁ.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
Dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
Dukkhūpasamagāminaṁ.
Evamete tathā vuttā,
diṭṭhā me te yathā tathā;
Sadattho me anuppatto,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Svāgataṁ vata me āsi,
mama buddhassa santike;
Suvibhattesu dhammesu,
yaṁ seṭṭhaṁ tadupāgamiṁ.
Abhiññāpāramippatto,
sotadhātu visodhitā;
Tevijjo iddhipattomhi,
cetopariyakovido”.
“Pucchāmi satthāramanomapaññaṁ,
Diṭṭheva dhamme yo vicikicchānaṁ chettā;
Aggāḷave kālamakāsi bhikkhu,
Ñāto yasassī abhinibbutatto.
Nigrodhakappo iti tassa nāmaṁ,
Tayā kataṁ bhagavā brāhmaṇassa;
So taṁ namassaṁ acari mutyapekho,
Āraddhavīriyo daḷhadhammadassī.
Taṁ sāvakaṁ sakka mayampi sabbe,
Aññātumicchāma samantacakkhu;
Samavaṭṭhitā no savanāya sotā,
Tuvaṁ no satthā tvamanuttarosi.
Chinda no vicikicchaṁ brūhi metaṁ,
Parinibbutaṁ vedaya bhūripañña;
Majjheva no bhāsa samantacakkhu,
Sakkova devāna sahassanetto.
Ye keci ganthā idha mohamaggā,
Aññāṇapakkhā vicikicchaṭhānā;
Tathāgataṁ patvā na te bhavanti,
Cakkhuñhi etaṁ paramaṁ narānaṁ.
No ce hi jātu puriso kilese,
Vāto yathā abbhaghanaṁ vihāne;
Tamovassa nivuto sabbaloko,
Jotimantopi na pabhāseyyuṁ.
Dhīrā ca pajjotakarā bhavanti,
Taṁ taṁ ahaṁ vīra tatheva maññe;
Vipassinaṁ jānamupāgamimha,
Parisāsu no āvikarohi kappaṁ.
Khippaṁ giraṁ eraya vaggu vagguṁ,
Haṁsova paggayha saṇikaṁ nikūja;
Bindussarena suvikappitena,
Sabbeva te ujjugatā suṇoma.
Pahīnajātimaraṇaṁ asesaṁ,
Niggayha dhonaṁ vadessāmi dhammaṁ;
Na kāmakāro hi puthujjanānaṁ,
Saṅkheyyakāro ca tathāgatānaṁ.
Sampannaveyyākaraṇaṁ tavedaṁ,
Samujjupaññassa samuggahītaṁ;
Ayamañjali pacchimo suppaṇāmito,
Mā mohayī jānamanomapañña.
Paroparaṁ ariyadhammaṁ viditvā,
Mā mohayī jānamanomavīriya;
Vāriṁ yathā ghammani ghammatatto,
Vācābhikaṅkhāmi sutaṁ pavassa.
Yadatthikaṁ brahmacariyaṁ acarī,
Kappāyano kaccissataṁ amoghaṁ;
Nibbāyi so ādu saupādiseso,
Yathā vimutto ahu taṁ suṇoma”.
“Acchecchi taṇhaṁ idha nāmarūpe,
(iti bhagavā)
Kaṇhassa sotaṁ dīgharattānusayitaṁ;
Atāri jātiṁ maraṇaṁ asesaṁ,
Iccabravi bhagavā pañcaseṭṭho”.
“Esa sutvā pasīdāmi,
vaco te isisattama;
Amoghaṁ kira me puṭṭhaṁ,
na maṁ vañcesi brāhmaṇo.
Yathā vādī tathā kārī,
ahu buddhassa sāvako;
Acchecchi maccuno jālaṁ,
tataṁ māyāvino daḷhaṁ.
Addasa bhagavā ādiṁ,
upādānassa kappiyo;
Accagā vata kappāno,
maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
Taṁ devadevaṁ vandāmi,
puttaṁ te dvipaduttama;
Anujātaṁ mahāvīraṁ,
nāgaṁ nāgassa orasan”ti.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā vaṅgīso thero gāthāyo abhāsitthāti.
Mahānipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Sattatimhi nipātamhi,
vaṅgīso paṭibhāṇavā;
Ekova thero natthañño,
gāthāyo ekasattatīti.
Niṭṭhitā theragāthāyo.
Tatruddānaṁ
Sahassaṁ honti tā gāthā,
tīṇi saṭṭhisatāni ca;
Therā ca dve satā saṭṭhi,
cattāro ca pakāsitā.
Sīhanādaṁ naditvāna,
buddhaputtā anāsavā;
Khemantaṁ pāpuṇitvāna,
aggikhandhāva nibbutāti.
Theragāthāpāḷi niṭṭhitā.