BJT 370“Thật vậy, vị nào thông minh, hiểu được lời nói của các bậc thầy, có thể sống theo lời dạy ấy và còn có thể làm sanh khởi lòng yêu mến, vị ấy được gọi là có sự tôn sùng và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
BJT 371Vị nào không bị các nỗi bất hạnh lớn lao đã sanh khởi làm cho dao động trong khi quán xét, vị ấy được gọi là có sự dõng mãnh và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
BJT 372Thật vậy, vị nào vững vàng, tựa như biển cả, không còn dục vọng, có trí tuệ thâm sâu, có sự nhìn thấy ý nghĩa vi tế, vị ấy được gọi là không thể dời đổi và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
saṭṭhī ca pañca gāthāyo therā ca ettha dvādasā ”ti.
BJT 374Vị nào hiểu biết ý nghĩa của lời đã được thuyết giảng, và sau khi hiểu được ý nghĩa thì thực hành theo như thế, vị ấy được gọi là ở bên trong ý nghĩa và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.”
Đại đức trưởng lão Kosiya đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Kosiya.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Vị Rājadatta, và vị Subhūta, vị Girimānanda, và vị Sumana, vị Vaḍḍha và trưởng lão Kassapa, vị Gayākassapa, và vị Vakkali.
Vị Vijita, và vị Yasadatta, vị Soṇa, vị có tên Kosiyasa. Có sáu mươi lăm câu kệ và ở đây là mười hai vị trưởng lão.”
Nhóm Năm được chấm dứt.
“Yo ve garūnaṁ vacanaññu dhīro,
Vase ca tamhi janayetha pemaṁ;
So bhattimā nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Yaṁ āpadā uppatitā uḷārā,
Nakkhambhayante paṭisaṅkhayantaṁ;
So thāmavā nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Yo ve samuddova ṭhito anejo,
Gambhīrapañño nipuṇatthadassī;
Asaṁhāriyo nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Bahussuto dhammadharo ca hoti,
Dhammassa hoti anudhammacārī;
So tādiso nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Atthañca yo jānāti bhāsitassa,
Atthañca ñatvāna tathā karoti;
Atthantaro nāma sa hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assā”ti.
… Kosiyo thero ….
Pañcakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Rājadatto subhūto ca,
girimānandasumanā;
Vaḍḍho ca kassapo thero,
gayākassapavakkalī.
Vijito yasadatto ca,
soṇo kosiyasavhayo;
Saṭṭhi ca pañca gāthāyo,
therā ca ettha dvādasāti.
Whatever attentive one, understanding their teacher’s words,
stays with them, their fondness growing;
that astute person is indeed devoted—
knowing the teachings, they’re distinguished.
When extreme stresses arise,
one who does not tremble, but reflects instead,
that astute person is indeed strong—
knowing the teachings, they’re distinguished.
Steady as the ocean, imperturbable,
their wisdom is deep, they see the subtle meaning;
that astute person is indeed unfaltering—
knowing the teachings, they’re distinguished.
They’re very learned, and have memorized the teaching,
living in line with the teaching—
that astute person is indeed such—
knowing the teachings, they’re distinguished.
They know the meaning of what is said,
and act accordingly;
that astute person is indeed a master of meaning—
knowing the teachings, they’re distinguished.
BJT 370“Thật vậy, vị nào thông minh, hiểu được lời nói của các bậc thầy, có thể sống theo lời dạy ấy và còn có thể làm sanh khởi lòng yêu mến, vị ấy được gọi là có sự tôn sùng và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
BJT 371Vị nào không bị các nỗi bất hạnh lớn lao đã sanh khởi làm cho dao động trong khi quán xét, vị ấy được gọi là có sự dõng mãnh và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
BJT 372Thật vậy, vị nào vững vàng, tựa như biển cả, không còn dục vọng, có trí tuệ thâm sâu, có sự nhìn thấy ý nghĩa vi tế, vị ấy được gọi là không thể dời đổi và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
saṭṭhī ca pañca gāthāyo therā ca ettha dvādasā ”ti.
BJT 374Vị nào hiểu biết ý nghĩa của lời đã được thuyết giảng, và sau khi hiểu được ý nghĩa thì thực hành theo như thế, vị ấy được gọi là ở bên trong ý nghĩa và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.”
Đại đức trưởng lão Kosiya đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Kosiya.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Vị Rājadatta, và vị Subhūta, vị Girimānanda, và vị Sumana, vị Vaḍḍha và trưởng lão Kassapa, vị Gayākassapa, và vị Vakkali.
Vị Vijita, và vị Yasadatta, vị Soṇa, vị có tên Kosiyasa. Có sáu mươi lăm câu kệ và ở đây là mười hai vị trưởng lão.”
Nhóm Năm được chấm dứt.
“Yo ve garūnaṁ vacanaññu dhīro,
Vase ca tamhi janayetha pemaṁ;
So bhattimā nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Yaṁ āpadā uppatitā uḷārā,
Nakkhambhayante paṭisaṅkhayantaṁ;
So thāmavā nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Yo ve samuddova ṭhito anejo,
Gambhīrapañño nipuṇatthadassī;
Asaṁhāriyo nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Bahussuto dhammadharo ca hoti,
Dhammassa hoti anudhammacārī;
So tādiso nāma ca hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assa.
Atthañca yo jānāti bhāsitassa,
Atthañca ñatvāna tathā karoti;
Atthantaro nāma sa hoti paṇḍito,
Ñatvā ca dhammesu visesi assā”ti.
… Kosiyo thero ….
Pañcakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Rājadatto subhūto ca,
girimānandasumanā;
Vaḍḍho ca kassapo thero,
gayākassapavakkalī.
Vijito yasadatto ca,
soṇo kosiyasavhayo;
Saṭṭhi ca pañca gāthāyo,
therā ca ettha dvādasāti.