BJT 747“Quả thật, có sự tinh cần một thời gian dài, trong khi suy tư về Giáo Pháp, trong khi học hỏi các vị Sa-môn và Bà-la-môn, tôi đã không đạt được sự bình lặng của tâm.
BJT 748Ở thế gian, ai là người đã đi đến bờ kia? Ai đã đạt được sự thể nhập vào Bất Tử? Giáo Pháp tuyên bố về mục đích tối hậu của vị nào mà tôi chấp nhận?
BJT 749Tôi đã bị vướng lưỡi câu ở bên trong, tựa như con cá ăn miếng mồi, giống như A-tu-la Vepacitti bị vướng bẫy sập của vị thần Inda vĩ đại.
BJT 750Tôi kéo theo cái ấy, tôi không được thoát khỏi sự sầu muộn và than vãn này. Người nào, trong khi cởi ra sự trói buộc cho tôi, sẽ giúp cho tôi hiểu được sự giác ngộ ở thế gian?
BJT 751Vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đang chỉ ra sự phá vỡ (các phiền não), Giáo Pháp có sự xua đi già và chết của vị nào mà tôi chấp nhận?
BJT 752Mũi tên tham ái, bị cột trói chung với sự phân vân và nghi hoặc, bị gắn liền với sức mạnh của sự tự cao, bị cố chấp khi tâm đạt đến sự phẫn nộ.
BJT 753Được phát xuất từ cây cung tham ái, và được kết nối với hai lần mười lăm (ba mươi tà kiến), ngươi hãy nhìn xem nó đã chẻ ra lồng ngực chắc chắn, rồi đứng yên.
BJT 754Việc không từ bỏ các tà kiến phụ thuộc đã được thúc đẩy bởi sự suy tư và ký ức. Bị xuyên thủng bởi nó (mũi tên tà kiến), tôi run rẩy, tựa như chiếc lá bị lay động bởi làn gió.
BJT 755Sau khi sanh khởi ở nội tâm của tôi, bản ngã tức thời được nung nấu. Cái thân thể với sáu xúc xứ là nơi (bản ngã) phát xuất vào mọi lúc.
BJT 756Tôi không nhìn thấy người thầy thuốc nào có thể nhổ lên mũi tên ấy cho tôi bằng vật dụng các loại, không có dao mổ và dụng cụ khác, là điều còn hoài nghi.
BJT 758Chính bậc Pháp Chủ hàng đầu ấy, người lấy đi sự tác hại của chất độc, có thể giúp cho tôi nhìn thấy mặt đất (Niết Bàn) và bàn tay (Thánh Đạo) khi tôi đã bị rơi vào vực sâu.
BJT 759Tôi bị chìm sâu trong hồ chứa bụi bặm và bùn lầy ứ đọng, bị bao trùm bởi sự xảo trá, ganh tỵ, tự cao, và dã dượi buồn ngủ.
BJT 760Sấm sét từ đám mây phóng dật, đám mây của (mười) sự ràng buộc, các suy tư phụ thuộc vào luyến ái là các dòng chảy cuốn trôi kẻ có tà kiến xấu xa.
BJT 761Các dòng nước chảy tràn khắp mọi nơi, loài dây leo đâm chồi và tồn tại, ai có thể ngăn chặn các dòng nước ấy, ai sẽ chặt đứt loài dây leo ấy?
BJT 762Thưa ngài đại đức, ngài hãy tạo ra vòng đai ngăn chặn các dòng nước, chớ để dòng nước do tâm tạo nhấn chìm ngài một cách tàn bạo, tựa như khúc cây.
BJT 763Tương tự như vậy, đối với tôi, kẻ đã khởi sanh nỗi sợ hãi, từ bờ bên này đang tìm kiếm bờ kia, thì bậc Đạo Sư, được tập thể các vị ẩn sĩ tháp tùng, có vũ khí trí tuệ, là chốn nương tựa của tôi.
BJT 764Trong lúc tôi đang bị cuốn trôi, Ngài đã trao cho tôi chiếc thang đã khéo được thực hiện, trong sạch, làm bằng chất tinh túy của Giáo Pháp, vững chắc, và đã nói rằng: ‘Chớ sợ hãi.’
BJT 765Sau khi leo lên tòa lâu đài của sự thiết lập niệm, tôi đã quán xét lại về điều mà tôi đã quan niệm trước đây, là loài người thích thú với bản thân của mình.
BJT 766Và từ khi tôi đã nhìn thấy Đạo Lộ có sự đưa lên con thuyền, tôi đã không chăm chú về bản thân, và tôi đã nhìn thấy bến tàu tối thượng.
BJT 767Mũi tên có nguồn phát xuất ở tự ngã, đã sản sanh ra lối dẫn đến hiện hữu; Ngài đã thuyết giảng Đạo Lộ tối thượng đưa đến sự ngưng vận hành của những việc này.
BJT 768Đức Phật, với việc lấy đi sự tác hại của chất độc, đã cởi bỏ cho tôi mối buộc thắt đã được tiềm ẩn thời gian dài, đã được tồn tại thời gian lâu.”
Đại đức trưởng lão Telakāni đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Telakāni.
“Cirarattaṁ vatātāpī,
dhammaṁ anuvicintayaṁ;
Samaṁ cittassa nālatthaṁ,
pucchaṁ samaṇabrāhmaṇe.
‘Ko so pāraṅgato loke,
ko patto amatogadhaṁ;
Kassa dhammaṁ paṭicchāmi,
paramatthavijānanaṁ’.
Antovaṅkagato āsi,
macchova ghasamāmisaṁ;
Baddho mahindapāsena,
vepacityasuro yathā.
Añchāmi naṁ na muñcāmi,
asmā sokapariddavā;
Ko me bandhaṁ muñcaṁ loke,
sambodhiṁ vedayissati.
Samaṇaṁ brāhmaṇaṁ vā kaṁ,
ādisantaṁ pabhaṅgunaṁ;
Kassa dhammaṁ paṭicchāmi,
jarāmaccupavāhanaṁ.
Vicikicchākaṅkhāganthitaṁ,
sārambhabalasaññutaṁ;
Kodhappattamanatthaddhaṁ,
abhijappappadāraṇaṁ.
Taṇhādhanusamuṭṭhānaṁ,
dve ca pannarasāyutaṁ;
Passa orasikaṁ bāḷhaṁ,
bhetvāna yadi tiṭṭhati.
Anudiṭṭhīnaṁ appahānaṁ,
saṅkappaparatejitaṁ;
Tena viddho pavedhāmi,
pattaṁva māluteritaṁ.
Ajjhattaṁ me samuṭṭhāya,
khippaṁ paccati māmakaṁ;
Chaphassāyatanī kāyo,
yattha sarati sabbadā.
Taṁ na passāmi tekicchaṁ,
yo metaṁ sallamuddhare;
Nānārajjena satthena,
nāññena vicikicchitaṁ.
Ko me asattho avaṇo,
Sallamabbhantarapassayaṁ;
Ahiṁsaṁ sabbagattāni,
Sallaṁ me uddharissati.
Dhammappati hi so seṭṭho,
visadosappavāhako;
Gambhīre patitassa me,
thalaṁ pāṇiñca dassaye.
Rahadehamasmi ogāḷho,
ahāriyarajamattike;
Māyāusūyasārambha,
thinamiddhamapatthaṭe.
Uddhaccameghathanitaṁ,
saṁyojanavalāhakaṁ;
Vāhā vahanti kuddiṭṭhiṁ,
saṅkappā rāganissitā.
Savanti sabbadhi sotā,
latā ubbhijja tiṭṭhati;
Te sote ko nivāreyya,
taṁ lataṁ ko hi checchati.
Velaṁ karotha bhaddante,
sotānaṁ sannivāraṇaṁ;
Mā te manomayo soto,
rukkhaṁva sahasā luve.
Evaṁ me bhayajātassa,
apārā pāramesato;
Tāṇo paññāvudho satthā,
isisaṅghanisevito.
Sopāṇaṁ sugataṁ suddhaṁ,
dhammasāramayaṁ daḷhaṁ;
Pādāsi vuyhamānassa,
‘mā bhāyī’ti ca mabravi.
Satipaṭṭhānapāsādaṁ,
āruyha paccavekkhisaṁ;
Yaṁ taṁ pubbe amaññissaṁ,
sakkāyābhirataṁ pajaṁ.
Yadā ca maggamaddakkhiṁ,
nāvāya abhirūhanaṁ;
Anadhiṭṭhāya attānaṁ,
titthamaddakkhimuttamaṁ.
Sallaṁ attasamuṭṭhānaṁ,
bhavanettippabhāvitaṁ;
Etesaṁ appavattāya,
desesi maggamuttamaṁ.
Dīgharattānusayitaṁ,
cirarattamadhiṭṭhitaṁ;
Buddho mepānudī ganthaṁ,
visadosappavāhano”ti.
… Telakāni thero ….
For a long time, sadly,
though I keenly contemplated the teaching,
I gained no peace of mind.
So I asked this of ascetics and brahmins:
“Who in the world have crossed over?
Whose attainment has freedom from death as its objective?
Whose teaching do I accept
to understand the ultimate goal?
I was hooked inside,
like a fish gulping bait;
bound like the titan Vepaciti
in Mahinda’s trap.
Dragging it along, I’m not free
from grief and lamentation.
Who will free me from bonds in the world,
so that I may know awakening?
What ascetic or brahmin
points out what is frail?
Whose teaching do I accept
to rinse off old age and death?
Tied up with uncertainty and doubt,
secured by the power of aggression,
stiff as a mind beset by anger;
the arrow of covetousness,
propelled by the bow of craving,
is stuck in my twice-fifteen ribcage—
see how it stands in my breast,
breaking my strong heart.
Theories are not abandoned,
they are sharpened by memories and intentions;
and pierced by this I tremble,
like a leaf blowing in the gale.
Having arisen within,
what belongs to me burns quickly,
in that place where the body always heads
with its six sense-fields of contact.
I don’t see a healer
who can pull out my dart of doubt
without a lance
or some other blade.
Without knife or wound,
who will pull out this dart
that’s stuck inside me,
without harming any part of my body?
He really would be the Lord of the Dhamma,
the best one to cure the damage of poison;
when I have fallen into deep waters,
he would show me his hand and the shore.
I’ve plunged into a lake,
and I can’t wash off the mud and dirt.
It’s full of deceit, jealousy, aggression,
and dullness and drowsiness.
Like a thundering cloud of restlessness,
like a stormcloud of fetters;
lustful thoughts are winds
that sweep off a person with bad views.
The streams flow everywhere;
a weed springs up and remains.
Who will block the streams?
Who will cut the weed?”
“Venerable sir, build a dam
to block the streams.
Don’t let your mind-made streams
cut you down suddenly like a tree.”
That is how, when I was full of fear,
seeking the far shore from the near,
my shelter was the teacher whose weapon is wisdom,
frequented by the Saṅgha of seers.
As I was being swept away,
he gave me a strong, simple ladder,
made of the heartwood of Dhamma,
and he said to me: “Do not fear.”
I climbed the tower of mindfulness meditation,
and checked back down
at people delighting in substantial reality,
as I had obsessed over in the past.
When I saw the path,
as I was embarking on the ship,
without fixating on the self,
I saw the supreme landing-place.
The dart that arises in oneself,
and that which stems from the leash to existence:
he taught the supreme path
for the canceling of these.
For a long time it had lain within me;
for a long time it was fixed in me:
the Buddha cast aside the knot,
curing the damage of poison.
BJT 747“Quả thật, có sự tinh cần một thời gian dài, trong khi suy tư về Giáo Pháp, trong khi học hỏi các vị Sa-môn và Bà-la-môn, tôi đã không đạt được sự bình lặng của tâm.
BJT 748Ở thế gian, ai là người đã đi đến bờ kia? Ai đã đạt được sự thể nhập vào Bất Tử? Giáo Pháp tuyên bố về mục đích tối hậu của vị nào mà tôi chấp nhận?
BJT 749Tôi đã bị vướng lưỡi câu ở bên trong, tựa như con cá ăn miếng mồi, giống như A-tu-la Vepacitti bị vướng bẫy sập của vị thần Inda vĩ đại.
BJT 750Tôi kéo theo cái ấy, tôi không được thoát khỏi sự sầu muộn và than vãn này. Người nào, trong khi cởi ra sự trói buộc cho tôi, sẽ giúp cho tôi hiểu được sự giác ngộ ở thế gian?
BJT 751Vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đang chỉ ra sự phá vỡ (các phiền não), Giáo Pháp có sự xua đi già và chết của vị nào mà tôi chấp nhận?
BJT 752Mũi tên tham ái, bị cột trói chung với sự phân vân và nghi hoặc, bị gắn liền với sức mạnh của sự tự cao, bị cố chấp khi tâm đạt đến sự phẫn nộ.
BJT 753Được phát xuất từ cây cung tham ái, và được kết nối với hai lần mười lăm (ba mươi tà kiến), ngươi hãy nhìn xem nó đã chẻ ra lồng ngực chắc chắn, rồi đứng yên.
BJT 754Việc không từ bỏ các tà kiến phụ thuộc đã được thúc đẩy bởi sự suy tư và ký ức. Bị xuyên thủng bởi nó (mũi tên tà kiến), tôi run rẩy, tựa như chiếc lá bị lay động bởi làn gió.
BJT 755Sau khi sanh khởi ở nội tâm của tôi, bản ngã tức thời được nung nấu. Cái thân thể với sáu xúc xứ là nơi (bản ngã) phát xuất vào mọi lúc.
BJT 756Tôi không nhìn thấy người thầy thuốc nào có thể nhổ lên mũi tên ấy cho tôi bằng vật dụng các loại, không có dao mổ và dụng cụ khác, là điều còn hoài nghi.
BJT 758Chính bậc Pháp Chủ hàng đầu ấy, người lấy đi sự tác hại của chất độc, có thể giúp cho tôi nhìn thấy mặt đất (Niết Bàn) và bàn tay (Thánh Đạo) khi tôi đã bị rơi vào vực sâu.
BJT 759Tôi bị chìm sâu trong hồ chứa bụi bặm và bùn lầy ứ đọng, bị bao trùm bởi sự xảo trá, ganh tỵ, tự cao, và dã dượi buồn ngủ.
BJT 760Sấm sét từ đám mây phóng dật, đám mây của (mười) sự ràng buộc, các suy tư phụ thuộc vào luyến ái là các dòng chảy cuốn trôi kẻ có tà kiến xấu xa.
BJT 761Các dòng nước chảy tràn khắp mọi nơi, loài dây leo đâm chồi và tồn tại, ai có thể ngăn chặn các dòng nước ấy, ai sẽ chặt đứt loài dây leo ấy?
BJT 762Thưa ngài đại đức, ngài hãy tạo ra vòng đai ngăn chặn các dòng nước, chớ để dòng nước do tâm tạo nhấn chìm ngài một cách tàn bạo, tựa như khúc cây.
BJT 763Tương tự như vậy, đối với tôi, kẻ đã khởi sanh nỗi sợ hãi, từ bờ bên này đang tìm kiếm bờ kia, thì bậc Đạo Sư, được tập thể các vị ẩn sĩ tháp tùng, có vũ khí trí tuệ, là chốn nương tựa của tôi.
BJT 764Trong lúc tôi đang bị cuốn trôi, Ngài đã trao cho tôi chiếc thang đã khéo được thực hiện, trong sạch, làm bằng chất tinh túy của Giáo Pháp, vững chắc, và đã nói rằng: ‘Chớ sợ hãi.’
BJT 765Sau khi leo lên tòa lâu đài của sự thiết lập niệm, tôi đã quán xét lại về điều mà tôi đã quan niệm trước đây, là loài người thích thú với bản thân của mình.
BJT 766Và từ khi tôi đã nhìn thấy Đạo Lộ có sự đưa lên con thuyền, tôi đã không chăm chú về bản thân, và tôi đã nhìn thấy bến tàu tối thượng.
BJT 767Mũi tên có nguồn phát xuất ở tự ngã, đã sản sanh ra lối dẫn đến hiện hữu; Ngài đã thuyết giảng Đạo Lộ tối thượng đưa đến sự ngưng vận hành của những việc này.
BJT 768Đức Phật, với việc lấy đi sự tác hại của chất độc, đã cởi bỏ cho tôi mối buộc thắt đã được tiềm ẩn thời gian dài, đã được tồn tại thời gian lâu.”
Đại đức trưởng lão Telakāni đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Telakāni.
“Cirarattaṁ vatātāpī,
dhammaṁ anuvicintayaṁ;
Samaṁ cittassa nālatthaṁ,
pucchaṁ samaṇabrāhmaṇe.
‘Ko so pāraṅgato loke,
ko patto amatogadhaṁ;
Kassa dhammaṁ paṭicchāmi,
paramatthavijānanaṁ’.
Antovaṅkagato āsi,
macchova ghasamāmisaṁ;
Baddho mahindapāsena,
vepacityasuro yathā.
Añchāmi naṁ na muñcāmi,
asmā sokapariddavā;
Ko me bandhaṁ muñcaṁ loke,
sambodhiṁ vedayissati.
Samaṇaṁ brāhmaṇaṁ vā kaṁ,
ādisantaṁ pabhaṅgunaṁ;
Kassa dhammaṁ paṭicchāmi,
jarāmaccupavāhanaṁ.
Vicikicchākaṅkhāganthitaṁ,
sārambhabalasaññutaṁ;
Kodhappattamanatthaddhaṁ,
abhijappappadāraṇaṁ.
Taṇhādhanusamuṭṭhānaṁ,
dve ca pannarasāyutaṁ;
Passa orasikaṁ bāḷhaṁ,
bhetvāna yadi tiṭṭhati.
Anudiṭṭhīnaṁ appahānaṁ,
saṅkappaparatejitaṁ;
Tena viddho pavedhāmi,
pattaṁva māluteritaṁ.
Ajjhattaṁ me samuṭṭhāya,
khippaṁ paccati māmakaṁ;
Chaphassāyatanī kāyo,
yattha sarati sabbadā.
Taṁ na passāmi tekicchaṁ,
yo metaṁ sallamuddhare;
Nānārajjena satthena,
nāññena vicikicchitaṁ.
Ko me asattho avaṇo,
Sallamabbhantarapassayaṁ;
Ahiṁsaṁ sabbagattāni,
Sallaṁ me uddharissati.
Dhammappati hi so seṭṭho,
visadosappavāhako;
Gambhīre patitassa me,
thalaṁ pāṇiñca dassaye.
Rahadehamasmi ogāḷho,
ahāriyarajamattike;
Māyāusūyasārambha,
thinamiddhamapatthaṭe.
Uddhaccameghathanitaṁ,
saṁyojanavalāhakaṁ;
Vāhā vahanti kuddiṭṭhiṁ,
saṅkappā rāganissitā.
Savanti sabbadhi sotā,
latā ubbhijja tiṭṭhati;
Te sote ko nivāreyya,
taṁ lataṁ ko hi checchati.
Velaṁ karotha bhaddante,
sotānaṁ sannivāraṇaṁ;
Mā te manomayo soto,
rukkhaṁva sahasā luve.
Evaṁ me bhayajātassa,
apārā pāramesato;
Tāṇo paññāvudho satthā,
isisaṅghanisevito.
Sopāṇaṁ sugataṁ suddhaṁ,
dhammasāramayaṁ daḷhaṁ;
Pādāsi vuyhamānassa,
‘mā bhāyī’ti ca mabravi.
Satipaṭṭhānapāsādaṁ,
āruyha paccavekkhisaṁ;
Yaṁ taṁ pubbe amaññissaṁ,
sakkāyābhirataṁ pajaṁ.
Yadā ca maggamaddakkhiṁ,
nāvāya abhirūhanaṁ;
Anadhiṭṭhāya attānaṁ,
titthamaddakkhimuttamaṁ.
Sallaṁ attasamuṭṭhānaṁ,
bhavanettippabhāvitaṁ;
Etesaṁ appavattāya,
desesi maggamuttamaṁ.
Dīgharattānusayitaṁ,
cirarattamadhiṭṭhitaṁ;
Buddho mepānudī ganthaṁ,
visadosappavāhano”ti.
… Telakāni thero ….