BJT 295“Họ đã nhận biết về tôi rằng: ‘Rāhula may mắn,’ được thành tựu luôn cả hai điều, bởi vì tôi là người con trai của đức Phật, và bởi vì tôi có sự nhận thức về các pháp.
BJT 296Bởi vì các lậu hoặc của tôi đã được cạn kiệt, và bởi vì không còn tái sanh nữa, tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, có ba Minh, đã nhìn thấy sự Bất Tử.
BJT 297(Chúng sanh) bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc cùng với thân quyến bị lơ đễnh, tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới.
BJT 298Sau khi buông bỏ dục vọng ấy, sau khi cắt đứt sự trói buộc của Ma Vương, sau khi nhổ lên tham ái luôn cả gốc rễ, tôi trở nên có trạng thái mát mẻ, Niết Bàn.”
Đại đức trưởng lão Rāhula đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Rāhula.
“Ubhayeneva sampanno,
rāhulabhaddoti maṁ vidū;
Yañcamhi putto buddhassa,
yañca dhammesu cakkhumā.
Yañca me āsavā khīṇā,
yañca natthi punabbhavo;
Arahā dakkhiṇeyyomhi,
tevijjo amataddaso.
Kāmandhā jālapacchannā,
taṇhāchādanachāditā;
Pamattabandhunā baddhā,
macchāva kumināmukhe.
Taṁ kāmaṁ ahamujjhitvā,
chetvā mārassa bandhanaṁ;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
sītibhūtosmi nibbuto”ti.
… Rāhulo thero ….
I am known as “Fortunate Rāhula”,
because I’m accomplished in both ways:
I am the son of the Buddha,
whose eye sees clearly in all things.
Since my defilements have ended,
since there are no more future lives—
I’m perfected, worthy of offerings,
master of the three knowledges, seer of freedom from death.
Blinded by sensual pleasures, trapped in a net,
they are smothered over by craving;
bound by the kinsman of the negligent,
like a fish caught in a funnel-net trap.
Having thrown off those sensual pleasures,
having cut Māra’s bond,
and having plucked out craving, root and all:
I’m cooled, quenched.
BJT 295“Họ đã nhận biết về tôi rằng: ‘Rāhula may mắn,’ được thành tựu luôn cả hai điều, bởi vì tôi là người con trai của đức Phật, và bởi vì tôi có sự nhận thức về các pháp.
BJT 296Bởi vì các lậu hoặc của tôi đã được cạn kiệt, và bởi vì không còn tái sanh nữa, tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, có ba Minh, đã nhìn thấy sự Bất Tử.
BJT 297(Chúng sanh) bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc cùng với thân quyến bị lơ đễnh, tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới.
BJT 298Sau khi buông bỏ dục vọng ấy, sau khi cắt đứt sự trói buộc của Ma Vương, sau khi nhổ lên tham ái luôn cả gốc rễ, tôi trở nên có trạng thái mát mẻ, Niết Bàn.”
Đại đức trưởng lão Rāhula đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Rāhula.
“Ubhayeneva sampanno,
rāhulabhaddoti maṁ vidū;
Yañcamhi putto buddhassa,
yañca dhammesu cakkhumā.
Yañca me āsavā khīṇā,
yañca natthi punabbhavo;
Arahā dakkhiṇeyyomhi,
tevijjo amataddaso.
Kāmandhā jālapacchannā,
taṇhāchādanachāditā;
Pamattabandhunā baddhā,
macchāva kumināmukhe.
Taṁ kāmaṁ ahamujjhitvā,
chetvā mārassa bandhanaṁ;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
sītibhūtosmi nibbuto”ti.
… Rāhulo thero ….