BJT 510“Vào lúc tôi đã nhìn thấy đấng Đạo Sư, bậc không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu lần đầu tiên, do đó đã có sự chấn động ở tôi sau khi nhìn thấy đấng Tối Thượng Nhân.
BJT 511Người nào cúi lạy vận may đã đi đến với các bàn tay và các bàn chân, sau khi làm hoan hỷ bậc Đạo Sư như thế này, người ấy sao có thể bỏ qua cơ hội?
BJT 512Khi ấy, tôi đã lìa bỏ con trai và người vợ, tài sản và lúa gạo. Sau khi nhờ người cắt tóc râu, tôi đã xuất gia sống đời không nhà.
BJT 513Được đầy đủ về việc học tập và sự nuôi mạng, đã khéo được thu thúc ở các giác quan, trong khi kính lễ đấng Toàn Giác, tôi đã sống, không bị đánh bại.
BJT 514Sau đó, tôi đã có ước nguyện, tôi đã mong mỏi ở trong tâm rằng: ‘Khi mũi tên tham ái chưa được lấy ra, ta không nên ngồi xuống cho dầu chỉ phút chốc.’
BJT 515Trong lúc tôi đây đang sống như vậy, hãy nhìn xem sự tinh tấn và ra sức của tôi. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 516Có Thiên nhãn được trong sạch, tôi biết được đời sống trong thời quá khứ. Tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh.
BJT 517Sau đó, vào lúc tàn đêm cho đến khi mọc lên của mặt trời, sau khi làm khô héo tất cả tham ái, tôi đã ngồi xuống với thế ngồi kiết già.”
Đại đức trưởng lão Mahāpanthaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahāpanthaka.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Trưởng lão Mahākaccāyana, vị Sirimitta, vị Mahāpanthaka. Ở nhóm tám này, có hai mươi bốn câu kệ.”
Nhóm Tám được chấm dứt.
“Yadā paṭhamamaddakkhiṁ,
satthāramakutobhayaṁ;
Tato me ahu saṁvego,
passitvā purisuttamaṁ.
Siriṁ hatthehi pādehi,
yo paṇāmeyya āgataṁ;
Etādisaṁ so satthāraṁ,
ārādhetvā virādhaye.
Tadāhaṁ puttadārañca,
dhanadhaññañca chaḍḍayiṁ;
Kesamassūni chedetvā,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Sikkhāsājīvasampanno,
indriyesu susaṁvuto;
Namassamāno sambuddhaṁ,
vihāsiṁ aparājito.
Tato me paṇidhī āsi,
cetaso abhipatthito;
Na nisīde muhuttampi,
taṇhāsalle anūhate.
Tassa mevaṁ viharato,
passa vīriyaparakkamaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Arahā dakkhiṇeyyomhi,
vippamutto nirūpadhi.
Tato ratyā vivasāne,
sūriyuggamanaṁ pati;
Sabbaṁ taṇhaṁ visosetvā,
pallaṅkena upāvisin”ti.
… Mahāpanthako thero …
Aṭṭhakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Mahākaccāyano thero,
sirimitto mahāpanthako;
Ete aṭṭhanipātamhi,
gāthāyo catuvīsatīti.
When I first saw the Teacher
who fears nothing from any quarter,
I was struck with a sense of urgency,
seeing the supreme among men.
Anyone who, having found such a Teacher,
would lose them again,
is like one who, when approached by Lady Luck,
would ward her off with their hands and feet.
Then I left behind my children and wives,
my riches and my grain;
I had my hair and beard cut off,
and went forth to homelessness.
Endowed with the monastic training and livelihood,
my sense faculties well-restrained,
paying homage to the Buddha,
I meditated undefeated.
Then a wish occurred to me,
my heart’s truest wish:
I wouldn’t sit down, not even for a short while,
until the dart of craving was plucked.
As I meditate like this,
see my energy and vigor!
I’ve attained the three knowledges,
and fulfilled the Buddha’s instructions.
I know my past lives,
my clairvoyance is clarified;
I’m perfected, worthy of offerings,
liberated, free of attachments.
Then, at the end of the night,
as the rising of the sun drew near,
all craving was dried up,
so I sat down cross-legged.
BJT 510“Vào lúc tôi đã nhìn thấy đấng Đạo Sư, bậc không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu lần đầu tiên, do đó đã có sự chấn động ở tôi sau khi nhìn thấy đấng Tối Thượng Nhân.
BJT 511Người nào cúi lạy vận may đã đi đến với các bàn tay và các bàn chân, sau khi làm hoan hỷ bậc Đạo Sư như thế này, người ấy sao có thể bỏ qua cơ hội?
BJT 512Khi ấy, tôi đã lìa bỏ con trai và người vợ, tài sản và lúa gạo. Sau khi nhờ người cắt tóc râu, tôi đã xuất gia sống đời không nhà.
BJT 513Được đầy đủ về việc học tập và sự nuôi mạng, đã khéo được thu thúc ở các giác quan, trong khi kính lễ đấng Toàn Giác, tôi đã sống, không bị đánh bại.
BJT 514Sau đó, tôi đã có ước nguyện, tôi đã mong mỏi ở trong tâm rằng: ‘Khi mũi tên tham ái chưa được lấy ra, ta không nên ngồi xuống cho dầu chỉ phút chốc.’
BJT 515Trong lúc tôi đây đang sống như vậy, hãy nhìn xem sự tinh tấn và ra sức của tôi. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 516Có Thiên nhãn được trong sạch, tôi biết được đời sống trong thời quá khứ. Tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh.
BJT 517Sau đó, vào lúc tàn đêm cho đến khi mọc lên của mặt trời, sau khi làm khô héo tất cả tham ái, tôi đã ngồi xuống với thế ngồi kiết già.”
Đại đức trưởng lão Mahāpanthaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahāpanthaka.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Trưởng lão Mahākaccāyana, vị Sirimitta, vị Mahāpanthaka. Ở nhóm tám này, có hai mươi bốn câu kệ.”
Nhóm Tám được chấm dứt.
“Yadā paṭhamamaddakkhiṁ,
satthāramakutobhayaṁ;
Tato me ahu saṁvego,
passitvā purisuttamaṁ.
Siriṁ hatthehi pādehi,
yo paṇāmeyya āgataṁ;
Etādisaṁ so satthāraṁ,
ārādhetvā virādhaye.
Tadāhaṁ puttadārañca,
dhanadhaññañca chaḍḍayiṁ;
Kesamassūni chedetvā,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Sikkhāsājīvasampanno,
indriyesu susaṁvuto;
Namassamāno sambuddhaṁ,
vihāsiṁ aparājito.
Tato me paṇidhī āsi,
cetaso abhipatthito;
Na nisīde muhuttampi,
taṇhāsalle anūhate.
Tassa mevaṁ viharato,
passa vīriyaparakkamaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Arahā dakkhiṇeyyomhi,
vippamutto nirūpadhi.
Tato ratyā vivasāne,
sūriyuggamanaṁ pati;
Sabbaṁ taṇhaṁ visosetvā,
pallaṅkena upāvisin”ti.
… Mahāpanthako thero …
Aṭṭhakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Mahākaccāyano thero,
sirimitto mahāpanthako;
Ete aṭṭhanipātamhi,
gāthāyo catuvīsatīti.