BJT 705“‘Những kẻ mà chúng tôi (đã) giết trước đây vì mục đích cúng tế hay vì mục đích tài sản đều không còn sự tự chủ, có sự sợ hãi; chúng run rẩy, than khóc.
BJT 706Đối với ngươi đây, không có trạng thái sợ hãi, sắc diện còn thêm tươi tỉnh. Tại sao ngươi lại không than van trong trường hợp kinh hãi lớn lao như thế này?’
BJT 707‘Này chúa trùm, đối với người không có sự trông mong, trạng thái tâm khổ đau không có. Đúng vậy, đối với người có sự ràng buộc đã được cạn kiệt, tất cả các sự sợ hãi đã được vượt qua.
BJT 708Khi lối dẫn đến hiện hữu đã được cạn kiệt, khi các pháp được thấy đúng theo bản thể thật, sự sợ hãi vì cái chết là không có, giống như ở việc đặt xuống gánh nặng (sự sợ hãi là không có).
BJT 709Đối với ta, Phạm hạnh đã khéo được thực hành, và (Thánh) Đạo cũng đã khéo được tu tập. Đối với ta, không có nỗi sợ hãi về cái chết, tựa như (không có nỗi sợ hãi) ở sự hoàn toàn cạn kiệt của các cơn bệnh.
BJT 710Đối với ta, Phạm hạnh đã khéo được thực hành, và (Thánh) Đạo cũng đã khéo được tu tập, các hữu đã được nhìn thấy là không có khoái lạc, độc dược ngay sau khi uống vào đã được phun bỏ.
BJT 711Người đã đi đến bờ kia, không còn chấp thủ, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc, được vui mừng do sự cạn kiệt của tuổi thọ, giống như được thoát khỏi nơi hành quyết.
BJT 712Đã đạt đến bản thể pháp tối thượng, là người không có mong mỏi gì ở toàn bộ thế gian, tựa như đã được thoát khỏi ngôi nhà bị cháy rực, không sầu muộn về cái chết.
BJT 713Bất cứ điều gì có sự bám víu, hoặc ở nơi nào sự hiện hữu được thành tựu, toàn thể sự việc này không có chủ thể, bậc Đại Ẩn Sĩ đã nói như vậy.
BJT 714Người nào nhận biết điều ấy đúng như đã được đức Phật thuyết giảng thì không nắm bắt điều gì ở hiện hữu, tựa như không cầm lấy cục sắt đã được đốt nóng dữ dội.
BJT 715Đối với ta, không có suy nghĩ rằng: ‘Tôi đã là,’ ‘Tôi sẽ là’ không là suy nghĩ của ta. Các hành sẽ tiêu tan, than van gì về việc ấy?
BJT 716Này chúa trùm, đối với người đang nhìn thấy đúng theo bản thể sự sanh lên của các pháp một cách rõ rệt, sự liên tục của các hành một cách rõ rệt thì không có sự sợ hãi.
BJT 717Khi nào bằng trí tuệ nhìn thấy thế gian giống như cỏ và củi, trong khi không tìm thấy trạng thái sở hữu chủ: ‘Không có gì thuộc về tôi,’ vị ấy không sầu muộn.
BJT 718Ta không hài lòng với thân xác, ta không có sự mong mỏi với sự hiện hữu, thân này đây sẽ bị rã tan và sẽ không có cái khác nữa.
BJT 719Việc làm nào của ngươi với thân xác (này của ta), ngươi thích điều nào thì ngươi hãy làm điều ấy; đối với ta không vì nguyên nhân ấy mà có sự sân hận hay yêu thích ở trường hợp ấy.’
BJT 720Sau khi lắng nghe lời nói kỳ lạ, có sự nổi da gà ấy của vị ấy, những người thanh niên, sau khi bỏ các gươm đao xuống, đã nói điều này:
BJT 721‘Thưa ngài đại đức, sau khi đã hành pháp gì, hoặc ai là thầy của ngài, sau khi đi đến với lời giáo huấn của ai khiến trạng thái không sầu muộn được thành tựu?’
BJT 722‘Bậc Toàn Tri, có sự nhìn thấy tất cả, đấng Chiến Thắng, bậc Đại Bi Mẫn, đấng Đạo Sư, người thầy thuốc của tất cả thế gian là thầy của ta.
BJT 723Giáo Pháp này, đã được Ngài ấy thuyết giảng, đưa đến sự cạn kiệt (Niết Bàn), là vô thượng, sau khi đi đến với lời giáo huấn của Ngài ấy khiến trạng thái không sầu muộn được thành tựu.’
BJT 724Sau khi lắng nghe lời đã được khéo nói của vị ẩn sĩ, những kẻ cướp đã bỏ các gươm đao và vũ khí xuống, và một số đã xa lánh việc làm ấy, một số đã tuyên bố việc xuất gia.
BJT 725Những người ấy, sau khi đã xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Thiện Thệ, sau khi đã tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ và các lực, được sáng suốt, có tâm hướng thượng, có ý tốt đẹp, có các quyền đã được thực hành, đã chạm đến nền tảng của Niết Bàn, pháp vô vi.”
Đại đức trưởng lão Adhimutta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Adhimutta.
“Yaññatthaṁ vā dhanatthaṁ vā,
ye hanāma mayaṁ pure;
Avasesaṁ bhayaṁ hoti,
vedhanti vilapanti ca.
Tassa te natthi bhītattaṁ,
bhiyyo vaṇṇo pasīdati;
Kasmā na paridevesi,
evarūpe mahabbhaye”.
“Natthi cetasikaṁ dukkhaṁ,
anapekkhassa gāmaṇi;
Atikkantā bhayā sabbe,
khīṇasaṁyojanassa ve.
Khīṇāya bhavanettiyā,
diṭṭhe dhamme yathātathe;
Na bhayaṁ maraṇe hoti,
bhāranikkhepane yathā.
Suciṇṇaṁ brahmacariyaṁ me,
maggo cāpi subhāvito;
Maraṇe me bhayaṁ natthi,
rogānamiva saṅkhaye.
Suciṇṇaṁ brahmacariyaṁ me,
maggo cāpi subhāvito;
Nirassādā bhavā diṭṭhā,
visaṁ pitvāva chaḍḍitaṁ.
Pāragū anupādāno,
katakicco anāsavo;
Tuṭṭho āyukkhayā hoti,
mutto āghātanā yathā.
Uttamaṁ dhammataṁ patto,
sabbaloke anatthiko;
Ādittāva gharā mutto,
maraṇasmiṁ na socati.
Yadatthi saṅgataṁ kiñci,
bhavo vā yattha labbhati;
Sabbaṁ anissaraṁ etaṁ,
iti vuttaṁ mahesinā.
Yo taṁ tathā pajānāti,
yathā buddhena desitaṁ;
Na gaṇhāti bhavaṁ kiñci,
sutattaṁva ayoguḷaṁ.
Na me hoti ‘ahosin’ti,
‘bhavissan’ti na hoti me;
Saṅkhārā vigamissanti,
tattha kā paridevanā.
Suddhaṁ dhammasamuppādaṁ,
Suddhaṁ saṅkhārasantatiṁ;
Passantassa yathābhūtaṁ,
Na bhayaṁ hoti gāmaṇi.
Tiṇakaṭṭhasamaṁ lokaṁ,
yadā paññāya passati;
Mamattaṁ so asaṁvindaṁ,
‘natthi me’ti na socati.
Ukkaṇṭhāmi sarīrena,
bhavenamhi anatthiko;
Soyaṁ bhijjissati kāyo,
añño ca na bhavissati.
Yaṁ vo kiccaṁ sarīrena,
taṁ karotha yadicchatha;
Na me tappaccayā tattha,
doso pemañca hehiti”.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā,
abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ;
Satthāni nikkhipitvāna,
māṇavā etadabravuṁ.
“Kiṁ bhadante karitvāna,
ko vā ācariyo tava;
Kassa sāsanamāgamma,
labbhate taṁ asokatā”.
“Sabbaññū sabbadassāvī,
jino ācariyo mama;
Mahākāruṇiko satthā,
sabbalokatikicchako.
Tenāyaṁ desito dhammo,
khayagāmī anuttaro;
Tassa sāsanamāgamma,
labbhate taṁ asokatā”.
Sutvāna corā isino subhāsitaṁ,
Nikkhippa satthāni ca āvudhāni ca;
Tamhā ca kammā viramiṁsu eke,
Eke ca pabbajjamarocayiṁsu.
Te pabbajitvā sugatassa sāsane,
Bhāvetva bojjhaṅgabalāni paṇḍitā;
Udaggacittā sumanā katindriyā,
Phusiṁsu nibbānapadaṁ asaṅkhatanti.
… Adhimutto thero ….
“Those who we killed in the past,
whether for sacrifice or for wealth,
without exception were afraid;
they trembled and they squealed.
But you’re not scared;
you look even calmer than before.
Why don’t you cry out
in such a terrifying situation?”
“There isn’t any mental suffering
for one without concern, village chief.
All fears are left behind
by one whose fetters have ended.
When the leash to existence is ended,
and the truth is seen as it is,
there is no fear of death;
it’s like laying down a burden.
I’ve lived the spiritual life well,
and developed the path well, too.
I do not fear death;
it’s like the passing of a disease.
I’ve lived the spiritual life well,
and developed the path well, too.
I’ve seen that there’s nothing gratifying in existences,
like someone who has tasted poison, then thrown it out.
One who has gone beyond, without grasping,
they’ve completed the task and are free of defilements.
They are content at the end of life,
like someone released from execution.
Having realized the supreme Dhamma,
without needing anything in the whole world,
one doesn’t grieve at death;
for it’s like escaping from a burning house.
Whatever has come to pass,
wherever life is obtained,
there is no Lord of all that:
so said the great seer.
Whoever understands this
as it was taught by the Buddha
doesn’t grab on to any new life,
like you wouldn’t grab a hot iron ball.
It doesn’t occur to me, ‘I existed in the past’;
nor, ‘I will exist in the future’.
Conditions will vanish—
why weep over that?
Seeing truly
the bare arising of phenomena,
and the bare process of conditions,
there is no fear, village chief.
The world is like grass and sticks:
when this is seen with wisdom,
not finding anything to be mine,
you won’t grieve, thinking ‘I don’t have it’.
I’m fed up with the body;
I have no need for another life.
This body will be broken up,
and there won’t be another.
Do what you want
with my corpse.
I won’t be angry or attached
on account of that.”
When they heard these words,
so astonishing and hair-raising,
the young men laid down their swords
and spoke these words:
“What have you practiced, Venerable?
And who is your tutor?
Whose instructions do we follow
to gain the sorrowless state?”
“The knower of all, the seer of all:
the victor is my tutor.
He is a Teacher of great compassion,
healer of the whole world.
He taught this Dhamma,
leading to ending, unsurpassed.
Following his instructions,
you can gain the sorrowless state.”
When the bandits heard the good words of the seer,
they laid down their swords and weapons.
Some refrained from their former deeds,
while others chose the going-forth.
Having gone forth in the teaching of the Holy One,
those astute ones developed the awakening factors and the powers.
Elated, happy, their faculties complete,
they realized the state of extinguishment, the unconditioned.
BJT 705“‘Những kẻ mà chúng tôi (đã) giết trước đây vì mục đích cúng tế hay vì mục đích tài sản đều không còn sự tự chủ, có sự sợ hãi; chúng run rẩy, than khóc.
BJT 706Đối với ngươi đây, không có trạng thái sợ hãi, sắc diện còn thêm tươi tỉnh. Tại sao ngươi lại không than van trong trường hợp kinh hãi lớn lao như thế này?’
BJT 707‘Này chúa trùm, đối với người không có sự trông mong, trạng thái tâm khổ đau không có. Đúng vậy, đối với người có sự ràng buộc đã được cạn kiệt, tất cả các sự sợ hãi đã được vượt qua.
BJT 708Khi lối dẫn đến hiện hữu đã được cạn kiệt, khi các pháp được thấy đúng theo bản thể thật, sự sợ hãi vì cái chết là không có, giống như ở việc đặt xuống gánh nặng (sự sợ hãi là không có).
BJT 709Đối với ta, Phạm hạnh đã khéo được thực hành, và (Thánh) Đạo cũng đã khéo được tu tập. Đối với ta, không có nỗi sợ hãi về cái chết, tựa như (không có nỗi sợ hãi) ở sự hoàn toàn cạn kiệt của các cơn bệnh.
BJT 710Đối với ta, Phạm hạnh đã khéo được thực hành, và (Thánh) Đạo cũng đã khéo được tu tập, các hữu đã được nhìn thấy là không có khoái lạc, độc dược ngay sau khi uống vào đã được phun bỏ.
BJT 711Người đã đi đến bờ kia, không còn chấp thủ, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc, được vui mừng do sự cạn kiệt của tuổi thọ, giống như được thoát khỏi nơi hành quyết.
BJT 712Đã đạt đến bản thể pháp tối thượng, là người không có mong mỏi gì ở toàn bộ thế gian, tựa như đã được thoát khỏi ngôi nhà bị cháy rực, không sầu muộn về cái chết.
BJT 713Bất cứ điều gì có sự bám víu, hoặc ở nơi nào sự hiện hữu được thành tựu, toàn thể sự việc này không có chủ thể, bậc Đại Ẩn Sĩ đã nói như vậy.
BJT 714Người nào nhận biết điều ấy đúng như đã được đức Phật thuyết giảng thì không nắm bắt điều gì ở hiện hữu, tựa như không cầm lấy cục sắt đã được đốt nóng dữ dội.
BJT 715Đối với ta, không có suy nghĩ rằng: ‘Tôi đã là,’ ‘Tôi sẽ là’ không là suy nghĩ của ta. Các hành sẽ tiêu tan, than van gì về việc ấy?
BJT 716Này chúa trùm, đối với người đang nhìn thấy đúng theo bản thể sự sanh lên của các pháp một cách rõ rệt, sự liên tục của các hành một cách rõ rệt thì không có sự sợ hãi.
BJT 717Khi nào bằng trí tuệ nhìn thấy thế gian giống như cỏ và củi, trong khi không tìm thấy trạng thái sở hữu chủ: ‘Không có gì thuộc về tôi,’ vị ấy không sầu muộn.
BJT 718Ta không hài lòng với thân xác, ta không có sự mong mỏi với sự hiện hữu, thân này đây sẽ bị rã tan và sẽ không có cái khác nữa.
BJT 719Việc làm nào của ngươi với thân xác (này của ta), ngươi thích điều nào thì ngươi hãy làm điều ấy; đối với ta không vì nguyên nhân ấy mà có sự sân hận hay yêu thích ở trường hợp ấy.’
BJT 720Sau khi lắng nghe lời nói kỳ lạ, có sự nổi da gà ấy của vị ấy, những người thanh niên, sau khi bỏ các gươm đao xuống, đã nói điều này:
BJT 721‘Thưa ngài đại đức, sau khi đã hành pháp gì, hoặc ai là thầy của ngài, sau khi đi đến với lời giáo huấn của ai khiến trạng thái không sầu muộn được thành tựu?’
BJT 722‘Bậc Toàn Tri, có sự nhìn thấy tất cả, đấng Chiến Thắng, bậc Đại Bi Mẫn, đấng Đạo Sư, người thầy thuốc của tất cả thế gian là thầy của ta.
BJT 723Giáo Pháp này, đã được Ngài ấy thuyết giảng, đưa đến sự cạn kiệt (Niết Bàn), là vô thượng, sau khi đi đến với lời giáo huấn của Ngài ấy khiến trạng thái không sầu muộn được thành tựu.’
BJT 724Sau khi lắng nghe lời đã được khéo nói của vị ẩn sĩ, những kẻ cướp đã bỏ các gươm đao và vũ khí xuống, và một số đã xa lánh việc làm ấy, một số đã tuyên bố việc xuất gia.
BJT 725Những người ấy, sau khi đã xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Thiện Thệ, sau khi đã tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ và các lực, được sáng suốt, có tâm hướng thượng, có ý tốt đẹp, có các quyền đã được thực hành, đã chạm đến nền tảng của Niết Bàn, pháp vô vi.”
Đại đức trưởng lão Adhimutta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Adhimutta.
“Yaññatthaṁ vā dhanatthaṁ vā,
ye hanāma mayaṁ pure;
Avasesaṁ bhayaṁ hoti,
vedhanti vilapanti ca.
Tassa te natthi bhītattaṁ,
bhiyyo vaṇṇo pasīdati;
Kasmā na paridevesi,
evarūpe mahabbhaye”.
“Natthi cetasikaṁ dukkhaṁ,
anapekkhassa gāmaṇi;
Atikkantā bhayā sabbe,
khīṇasaṁyojanassa ve.
Khīṇāya bhavanettiyā,
diṭṭhe dhamme yathātathe;
Na bhayaṁ maraṇe hoti,
bhāranikkhepane yathā.
Suciṇṇaṁ brahmacariyaṁ me,
maggo cāpi subhāvito;
Maraṇe me bhayaṁ natthi,
rogānamiva saṅkhaye.
Suciṇṇaṁ brahmacariyaṁ me,
maggo cāpi subhāvito;
Nirassādā bhavā diṭṭhā,
visaṁ pitvāva chaḍḍitaṁ.
Pāragū anupādāno,
katakicco anāsavo;
Tuṭṭho āyukkhayā hoti,
mutto āghātanā yathā.
Uttamaṁ dhammataṁ patto,
sabbaloke anatthiko;
Ādittāva gharā mutto,
maraṇasmiṁ na socati.
Yadatthi saṅgataṁ kiñci,
bhavo vā yattha labbhati;
Sabbaṁ anissaraṁ etaṁ,
iti vuttaṁ mahesinā.
Yo taṁ tathā pajānāti,
yathā buddhena desitaṁ;
Na gaṇhāti bhavaṁ kiñci,
sutattaṁva ayoguḷaṁ.
Na me hoti ‘ahosin’ti,
‘bhavissan’ti na hoti me;
Saṅkhārā vigamissanti,
tattha kā paridevanā.
Suddhaṁ dhammasamuppādaṁ,
Suddhaṁ saṅkhārasantatiṁ;
Passantassa yathābhūtaṁ,
Na bhayaṁ hoti gāmaṇi.
Tiṇakaṭṭhasamaṁ lokaṁ,
yadā paññāya passati;
Mamattaṁ so asaṁvindaṁ,
‘natthi me’ti na socati.
Ukkaṇṭhāmi sarīrena,
bhavenamhi anatthiko;
Soyaṁ bhijjissati kāyo,
añño ca na bhavissati.
Yaṁ vo kiccaṁ sarīrena,
taṁ karotha yadicchatha;
Na me tappaccayā tattha,
doso pemañca hehiti”.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā,
abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ;
Satthāni nikkhipitvāna,
māṇavā etadabravuṁ.
“Kiṁ bhadante karitvāna,
ko vā ācariyo tava;
Kassa sāsanamāgamma,
labbhate taṁ asokatā”.
“Sabbaññū sabbadassāvī,
jino ācariyo mama;
Mahākāruṇiko satthā,
sabbalokatikicchako.
Tenāyaṁ desito dhammo,
khayagāmī anuttaro;
Tassa sāsanamāgamma,
labbhate taṁ asokatā”.
Sutvāna corā isino subhāsitaṁ,
Nikkhippa satthāni ca āvudhāni ca;
Tamhā ca kammā viramiṁsu eke,
Eke ca pabbajjamarocayiṁsu.
Te pabbajitvā sugatassa sāsane,
Bhāvetva bojjhaṅgabalāni paṇḍitā;
Udaggacittā sumanā katindriyā,
Phusiṁsu nibbānapadaṁ asaṅkhatanti.
… Adhimutto thero ….