BJT 794“Sau khi nhìn thấy sắc, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 795Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ sắc, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 796Sau khi nghe thinh, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 797Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ thinh, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 798Sau khi ngửi mùi hương, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 799Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ hương, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 800Sau khi thưởng thức vị, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 801Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ vị, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 802Sau khi đụng chạm xúc, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 803Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ xúc, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 804Sau khi nhận biết pháp, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 805Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ pháp, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 806Vị ấy không bị luyến ái ở các sắc, sau khi nhìn thấy sắc, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 807Đối với vị ấy, trong lúc đang nhìn cũng như đang tiếp xúc với sắc như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 809Đối với vị ấy, trong lúc đang nghe cũng như đang tiếp xúc với thinh như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 810Vị ấy không bị luyến ái ở các hương, sau khi ngửi hương, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 811Đối với vị ấy, trong lúc đang ngửi cũng như đang tiếp xúc với hương như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 812Vị ấy không bị luyến ái ở các vị, sau khi nếm vị, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 813Đối với vị ấy, trong lúc đang nếm cũng như đang tiếp xúc với vị như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 814Vị ấy không bị luyến ái ở các xúc, sau khi đụng chạm xúc, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 815Đối với vị ấy, trong lúc đang đụng chạm cũng như đang tiếp xúc với xúc như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 816Vị ấy không bị luyến ái ở các pháp, sau khi nhận biết pháp, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 817Đối với vị ấy, trong lúc đang nhận thức cũng như đang tiếp xúc với pháp như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.”
Đại đức trưởng lão Māluṅkyaputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Māluṅkyaputta.
“Rūpaṁ disvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā rūpasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Saddaṁ sutvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā saddasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Gandhaṁ ghatvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā gandhasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Rasaṁ bhotvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā rasasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Phassaṁ phussa sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā phassasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Dhammaṁ ñatvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā dhammasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Na so rajjati rūpesu,
rūpaṁ disvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa passato rūpaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati saddesu,
saddaṁ sutvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa suṇato saddaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati gandhesu,
gandhaṁ ghatvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa ghāyato gandhaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati rasesu,
rasaṁ bhotvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa sāyarato rasaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati phassesu,
phassaṁ phussa patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa phusato phassaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati dhammesu,
dhammaṁ ñatvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa vijānato dhammaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati”.
… Mālukyaputto thero ….
When you see a sight, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.
Many feelings grow
arising from sights.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.
When you hear a sound, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.
Many feelings grow
arising from sounds.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.
When you smell an odor, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.
Many feelings grow
arising from smells.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.
When you enjoy a taste, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.
Many feelings grow
arising from tastes.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.
When you sense a touch, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.
Many feelings grow
arising from touches.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.
When you know an idea, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.
Many feelings grow
arising from ideas.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.
There’s no desire for sights
when you see a sight with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.
Even as you see a sight
and undergo a feeling,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for sounds
when you hear a sound with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.
Even as you hear a sound
and undergo a feeling,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for odors
when you smell an odor with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.
Even as you smell an odor
and undergo a feeling,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for tastes
when you enjoy a taste with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.
Even as you savor a taste
and undergo a feeling,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for touches
when you sense a touch with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.
Even as you sense a touch
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for ideas
when you know an idea with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.
Even as you know an idea
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.
BJT 794“Sau khi nhìn thấy sắc, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 795Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ sắc, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 796Sau khi nghe thinh, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 797Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ thinh, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 798Sau khi ngửi mùi hương, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 799Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ hương, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 800Sau khi thưởng thức vị, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 801Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ vị, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 802Sau khi đụng chạm xúc, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 803Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ xúc, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 804Sau khi nhận biết pháp, trong khi chú ý đến dấu hiệu yêu thích thì niệm của người ấy bị quên lãng. Người có tâm đã bị luyến ái, cảm nhận và vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 805Đối với vị ấy, các thọ, gồm nhiều loại, xuất phát từ pháp, tăng trưởng; do tham lam và do bực bội, tâm của người này bị tổn hại; đối với người đang tích lũy khổ đau như thế, được gọi là cách xa Niết Bàn.
BJT 806Vị ấy không bị luyến ái ở các sắc, sau khi nhìn thấy sắc, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 807Đối với vị ấy, trong lúc đang nhìn cũng như đang tiếp xúc với sắc như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 809Đối với vị ấy, trong lúc đang nghe cũng như đang tiếp xúc với thinh như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 810Vị ấy không bị luyến ái ở các hương, sau khi ngửi hương, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 811Đối với vị ấy, trong lúc đang ngửi cũng như đang tiếp xúc với hương như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 812Vị ấy không bị luyến ái ở các vị, sau khi nếm vị, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 813Đối với vị ấy, trong lúc đang nếm cũng như đang tiếp xúc với vị như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 814Vị ấy không bị luyến ái ở các xúc, sau khi đụng chạm xúc, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 815Đối với vị ấy, trong lúc đang đụng chạm cũng như đang tiếp xúc với xúc như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.
BJT 816Vị ấy không bị luyến ái ở các pháp, sau khi nhận biết pháp, có niệm. Người có tâm không bị luyến ái, cảm nhận và không vướng mắc vào điều ấy, rồi tồn tại.
BJT 817Đối với vị ấy, trong lúc đang nhận thức cũng như đang tiếp xúc với pháp như thế nào mà thọ được cạn kiệt, không được tích lũy, thì vị ấy hành xử như vậy, có niệm; đối với vị không tích lũy khổ đau như thế, được gọi là gần bên Niết Bàn.”
Đại đức trưởng lão Māluṅkyaputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Māluṅkyaputta.
“Rūpaṁ disvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā rūpasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Saddaṁ sutvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā saddasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Gandhaṁ ghatvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā gandhasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Rasaṁ bhotvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā rasasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Phassaṁ phussa sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā phassasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Dhammaṁ ñatvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā dhammasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evamācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Na so rajjati rūpesu,
rūpaṁ disvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa passato rūpaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati saddesu,
saddaṁ sutvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa suṇato saddaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati gandhesu,
gandhaṁ ghatvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa ghāyato gandhaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati rasesu,
rasaṁ bhotvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa sāyarato rasaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati phassesu,
phassaṁ phussa patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa phusato phassaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati dhammesu,
dhammaṁ ñatvā patissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa vijānato dhammaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati”.
… Mālukyaputto thero ….