BJT 1152“Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, nội tâm khéo được định tĩnh, chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
BJT 1153Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
BJT 1154Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, khéo được định tĩnh nội tâm, chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
BJT 1155Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
BJT 1156‘Này cái chòi nhỏ có khung sườn là xương, được khâu lại với thịt và gân. Thật ghê tởm những thân xác với mùi khó chịu, nàng còn âu yếm thân thể của người khác.
BJT 1157Này cái túi chứa phân, này vật được gói lại bằng lớp da, này nữ yêu tinh có (hai) khối u ở ngực, chín dòng chảy ở thân thể của nàng luôn luôn tuôn trào.
BJT 1158Cơ thể của nàng có chín dòng chảy, tạo ra mùi khó chịu, là vật chướng ngại. Vị tỳ khưu tránh xa nó, giống như tránh xa cục phân, với ước muốn được trong sạch.
BJT 1159Nếu người ta biết về nàng, giống như ta biết về nàng, họ sẽ tránh né ra xa, như là (tránh xa) bãi chứa phân vào lúc mưa.’
BJT 1160‘Thưa vị đại anh hùng, thưa ngài Sa-môn, điều ấy là như vậy, giống như ngài đã nói. Và nhiều người chìm đắm ở nơi này, tựa như con bò già (chìm đắm) ở vũng lầy.’
BJT 1161‘Kẻ nào suy nghĩ để tô màu vàng nghệ hoặc bất cứ màu nào khác ở bầu trời, việc ấy chỉ đem lại phiền muộn.
BJT 1162Tâm này, tương tự như bầu trời, nội phần khéo được định tĩnh. Này cô nàng có tâm địa xấu xa, chớ công kích, tựa như loài bướm đêm công kích đống lửa.
BJT 1163Hãy nhìn xem bóng dáng được vẽ màu, nơi hội tụ các vết thương, được dựng lên (bằng ba trăm khúc xương), bệnh hoạn, nhiều suy tư (sái quấy), không có sự tồn tại trường cửu.
BJT 1164Hãy nhìn xem vóc dáng được vẽ màu, với ngọc ma-ni và với bông tai; là xương được bọc lại bởi da, nó rạng rỡ nhờ những vải vóc.
BJT 1165Các bàn chân được sơn màu đỏ, khuôn mặt được bôi phấn bột, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1166Các sợi tóc được làm thành tám lớp, các con mắt được bôi thuốc màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1167Thân thể hôi thối đã được trang điểm tựa như hộp thuốc bôi đã được vẽ màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1168Thợ săn đã đặt bẫy mồi, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ bắt thú đang than vãn.
BJT 1169Cái bẫy mồi của gã thợ săn đã bị đứt lìa, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ săn thú sầu muộn.’
BJT 1170Khi Sāriputta, vị đã thành tựu nhiều biểu hiện, Niết Bàn, khi ấy đã có sự kinh sợ, khi ấy đã có sự nổi da gà.
BJT 1171Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có pháp sanh và diệt, sau khi sanh lên chúng hoại diệt, sự tịnh lặng của chúng là an lạc.
BJT 1172Những người nào nhìn thấy năm uẩn là cái khác, không phải là bản ngã, những người ấy thấu triệt điều tinh vi, giống như xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
BJT 1173Và những người nào nhìn thấy các hành là cái khác, không phải là bản ngã, những người ấy đã thấu triệt điều vi tế, giống như đã xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
BJT 1174Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục.
BJT 1175Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở hiện hữu.
BJT 1176Được khích lệ bởi vị có bản thân đã được tu tập, bởi vị có sự mang thân mạng cuối cùng, bằng ngón chân cái tôi đã làm rung động tòa lâu đài của Migāramātu.
BJT 1177Niết Bàn, sự thoát khỏi tất cả các mối buộc thắt, có thể được chứng đắc; việc này không liên quan sự lơi lỏng, không phải với chút ít sức lực.
BJT 1178Và vị tỳ khưu trẻ này, con người tối thượng này, mang thân mạng cuối cùng, sau khi chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.
BJT 1179Các tia sét đã đánh dọc theo khe núi Vebhāra và Paṇḍava, người con trai của bậc không người đối xứng như thế ấy đã đi vào khe núi, tham thiền.
BJT 1180Bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế, có chỗ ngụ xa vắng, là người thừa tự của đức Phật tối thượng, được đấng Phạm Thiên lễ bái.
BJT 1181Này Bà-la-môn, hãy đảnh lễ vị Kassapa, bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế, có chỗ ngụ xa vắng, là người thừa tự của đức Phật tối thượng.
BJT 1182Và người nào có thể trải qua một trăm kiếp sống ở giữa loài người lần này lần khác, tất cả đều là dòng dõi Bà-la-môn, có các sự tốt lành, thành tựu về kinh Vệ Đà.
BJT 1183Thậm chí nếu có thể là người giảng dạy, vượt qua bờ kia của ba bộ Vệ Đà, việc ấy không giá trị bằng một phần mười sáu của việc đảnh lễ đến vị (Kassapa) ấy.
BJT 1184Vị ấy, trước bữa ăn, đã chạm đến tám (thiền) giải thoát, thuận chiều và nghịch chiều, sau đó mới đi khất thực.
BJT 1185Này Bà-la-môn, chớ công kích vị tỳ khưu như thế ấy, chớ đào sâu bản ngã, ngươi hãy khởi tâm tịnh tín ở vị A-la-hán như thế ấy, hãy mau chắp tay đảnh lễ, chớ làm vỡ tan cái đầu của ngươi.
BJT 1186Bị dẫn đầu bởi sự luân hồi, kẻ này không nhìn thấy Diệu Pháp, gã chạy theo con đường sai trái, con đường cong quẹo dẫn xuống phía dưới.
BJT 1187Tựa như con dòi bị lấm lem bởi phẩn, bị bám víu vào pháp hữu vi, bị đắm chìm trong lợi lộc và sự tôn vinh, Poṭhila rỗng không ra đi.
BJT 1188Và hãy nhìn xem vị Sāriputta đang đi đến, có dáng vẻ tốt đẹp, đã được giải thoát ở cả hai phần, nội tâm khéo được định tĩnh.
BJT 1189Vị không còn mũi tên, có sự ràng buộc đã được cạn kiệt, có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, bậc đáng được cúng dường, là thửa ruộng phước vô thượng của loài người.
BJT 1190Nhiều vị Thiên nhân này, có thần thông, có danh tiếng, tất cả mười ngàn vị Thiên nhân được dẫn đầu bởi đấng Phạm Thiên, đứng, chắp tay lại, đang lễ bái vị Moggallāna.
BJT 1191‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Các lậu hoặc của ngài đã được cạn kiệt. Thưa ngài, ngài là bậc đáng được cúng dường.’
BJT 1192Được người và trời tôn vinh, bậc chế ngự Thần Chết đã được hiện khởi, không bị lấm lem bởi pháp hữu vi, tựa như loài sen không bị lấm lem bởi nước.
BJT 1193Vị tỳ khưu ấy, với năng lực về các loại thần thông, về việc tử và sanh, nhìn thấy chư Thiên vào lúc hợp thời, đối với vị ấy thế gian luôn cả Phạm Thiên giới được nhận biết bằng một ngàn cách trong giây lát.
BJT 1194Còn vị tỳ khưu đã đi đến bờ kia, nếu là tối thắng y như thế ấy, chính là vị Sāriputta, với tuệ, với giới, và với sự an tịnh.
BJT 1195Tôi có thể biến hóa ra trăm ngàn koṭi bản thể của mình trong giây lát. Là thiện xảo trong các việc biến hóa, tôi có được năng lực về thần thông.
BJT 1196Vị dòng dõi Moggallāna, đã đi đến sự toàn hảo về năng lực của định và minh trong Giáo Pháp của bậc không bị vướng mắc, là vị thông minh, có giác quan được định tĩnh, đã cắt đứt sự trói buộc, giống như con voi giật đứt sợi dây rừng thối tha.
BJT 1197Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 1198Vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia, rời nhà sống không nhà, mục đích ấy của tôi, sự cạn kiệt tất cả các điều ràng buộc, đã được thành tựu.
BJT 1199Địa ngục, nơi mà Dussī đã bị nung nấu sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác), đã là như thế nào?
BJT 1200Đã là trăm cây cọc sắt, tất cả có cảm thọ riêng biệt. Địa ngục, nơi mà Dussī đã bị nung nấu sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác), đã là như thế này.
BJT 1201Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1202Các cung điện ngự ở giữa hồ, có sự tồn tại một kiếp, có màu ngọc bích, xinh đẹp, rực rỡ, chói lọi. Nơi ấy, nhiều tiên nữ nhảy múa, có bản thể và màu sắc khác biệt.
BJT 1203Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1204Đúng vậy, vị này, được khích lệ bởi đức Phật, trong khi hội chúng tỳ khưu đang chứng kiến, đã làm rung động tòa lâu đài của Migāramātu bằng ngón chân cái.
BJT 1205Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1206Được hỗ trợ bởi năng lực của thần thông, vị này đã làm rung động tòa lâu đài Vejayanta bằng ngón chân cái, và đã làm chư Thiên kinh động.
BJT 1207Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1208Ở tòa lâu đài Vejayanta, vị này hỏi (Thiên Chủ) Sakka rằng: ‘Thưa ngài, có phải ngài cũng biết về các sự giải thoát do sự cạn kiệt của tham ái?’ Được hỏi câu hỏi, (Thiên Chủ) Sakka đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật.
BJT 1209Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1210Đứng tại cuộc hội họp ở Sudhammā, vị này hỏi đấng (Đại) Phạm Thiên rằng: ‘Thưa ngài, thậm chí hôm nay quan điểm ấy của ngài cũng là quan điểm của ngài đã có trước kia? Ngài có nhìn thấy sự chói lọi ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần không?’
BJT 1211Được hỏi câu hỏi, Phạm Thiên đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật rằng: ‘Thưa ngài, quan điểm ấy không còn là của tôi, đó là quan điểm của tôi đã có trước kia.
BJT 1212Tôi nhìn thấy sự chói lọi ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần. Làm thế nào hôm nay tôi đây có thể nói: Tôi là thường hằng, là trường tồn được?’
BJT 1213Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1214Bằng sự giải thoát, vị này đã sờ vào chóp đỉnh của núi Neru vĩ đại, (luôn cả) khu rừng thuộc về Châu Pubbavideha, và những người đàn ông nằm ở mặt đất (thuộc Châu Uttarakuru).
BJT 1215Thật vậy, ngọn lửa không nghĩ rằng: ‘Ta thiêu đốt kẻ ngu;’ chỉ có kẻ ngu bị thiêu đốt sau khi công kích ngọn lửa đã được cháy rực.
BJT 1216Này Ma Vương, tương tự y như thế, sau khi công kích đức Như Lai, ngươi sẽ thiêu đốt bản thân chính mình, tựa như kẻ ngu chạm vào ngọn lửa.
BJT 1217Sau khi công kích đức Như Lai, Ma Vương đã tạo ra điều vô phước. Này kẻ xấu xa, phải chăng ngươi nghĩ rằng: ‘Việc ác của ta không kết quả?’
BJT 1218Này Thần Chết, việc ác của ngươi đang làm được tích lũy thời gian lâu dài. Này Ma Vương, ngươi hãy lánh xa đức Phật, ngươi chớ làm khó các vị tỳ khưu.
BJT 1219Vị tỳ khưu ở khu rừng bhesakalā đã quở trách Ma Vương như thế. Do đó, Dạ-xoa ấy, buồn rầu, đã biến mất ngay tại chỗ ấy.”
Đại đức trưởng lão Mahāmoggallāna đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahāmoggallāna.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Sáu Mươi, vị Moggallāna có đại thần lực là vị trưởng lão độc nhất, các câu kệ ấy là sáu mươi tám.”
Nhóm Sáu Mươi được chấm dứt.
“Āraññikā piṇḍapātikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dālemu maccuno senaṁ,
ajjhattaṁ susamāhitā.
Āraññikā piṇḍapātikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dhunāma maccuno senaṁ,
naḷāgāraṁva kuñjaro.
Rukkhamūlikā sātatikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dālemu maccuno senaṁ,
ajjhattaṁ susamāhitā.
Rukkhamūlikā sātatikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dhunāma maccuno senaṁ,
naḷāgāraṁva kuñjaro”.
“Aṭṭhikaṅkalakuṭike,
maṁsanhārupasibbite;
Dhiratthu pure duggandhe,
paragatte mamāyase.
Gūthabhaste taconaddhe,
uragaṇḍipisācini;
Nava sotāni te kāye,
yāni sandanti sabbadā.
Tava sarīraṁ navasotaṁ,
Duggandhakaraṁ paribandhaṁ;
Bhikkhu parivajjayate taṁ,
Mīḷhaṁ ca yathā sucikāmo.
Evañce taṁ jano jaññā,
yathā jānāmi taṁ ahaṁ;
Ārakā parivajjeyya,
gūthaṭṭhānaṁva pāvuse”.
“Evametaṁ mahāvīra,
yathā samaṇa bhāsasi;
Ettha ceke visīdanti,
paṅkamhiva jaraggavo”.
“Ākāsamhi haliddiyā,
yo maññetha rajetave;
Aññena vāpi raṅgena,
vighātudayameva taṁ.
Tadākāsasamaṁ cittaṁ,
ajjhattaṁ susamāhitaṁ;
Mā pāpacitte āsādi,
aggikhandhaṁva pakkhimā”.
“Passa cittakataṁ bimbaṁ,
arukāyaṁ samussitaṁ;
Āturaṁ bahusaṅkappaṁ,
yassa natthi dhuvaṁ ṭhiti.
Passa cittakataṁ rūpaṁ,
maṇinā kuṇḍalena ca;
Aṭṭhiṁ tacena onaddhaṁ,
saha vatthehi sobhati.
Alattakakatā pādā,
mukhaṁ cuṇṇakamakkhitaṁ;
Alaṁ bālassa mohāya,
no ca pāragavesino.
Aṭṭhapadakatā kesā,
nettā añjanamakkhitā;
Alaṁ bālassa mohāya,
no ca pāragavesino.
Añjanīva navā cittā,
pūtikāyo alaṅkato;
Alaṁ bālassa mohāya,
no ca pāragavesino.
Odahi migavo pāsaṁ,
nāsadā vāguraṁ migo;
Bhutvā nivāpaṁ gacchāma,
kaddante migabandhake.
Chinno pāso migavassa,
nāsadā vāguraṁ migo;
Bhutvā nivāpaṁ gacchāma,
socante migaluddake”.
“Tadāsi yaṁ bhiṁsanakaṁ,
tadāsi lomahaṁsanaṁ;
Anekākārasampanne,
sāriputtamhi nibbute.
Aniccā vata saṅkhārā,
uppādavayadhammino;
Upajjitvā nirujjhanti,
tesaṁ vūpasamo sukho.
Sukhumaṁ te paṭivijjhanti,
vālaggaṁ usunā yathā;
Ye pañcakkhandhe passanti,
parato no ca attato.
Ye ca passanti saṅkhāre,
parato no ca attato;
Paccabyādhiṁsu nipuṇaṁ,
vālaggaṁ usunā yathā.
Sattiyā viya omaṭṭho,
ḍayhamānova matthake;
Kāmarāgappahānāya,
sato bhikkhu paribbaje.
Sattiyā viya omaṭṭho,
ḍayhamānova matthake;
Bhavarāgappahānāya,
sato bhikkhu paribbaje.
Codito bhāvitattena,
sarīrantimadhārinā;
Migāramātupāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayiṁ.
Nayidaṁ sithilamārabbha,
nayidaṁ appena thāmasā;
Nibbānamadhigantabbaṁ,
sabbaganthapamocanaṁ.
Ayañca daharo bhikkhu,
ayamuttamaporiso;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhiniṁ.
Vivaramanupabhanti vijjutā,
Vebhārassa ca paṇḍavassa ca;
Nagavivaragato jhāyati,
Putto appaṭimassa tādino.
Upasanto uparato,
pantasenāsano muni;
Dāyādo buddhaseṭṭhassa,
brahmunā abhivandito”.
“Upasantaṁ uparataṁ,
pantasenāsanaṁ muniṁ;
Dāyādaṁ buddhaseṭṭhassa,
vanda brāhmaṇa kassapaṁ.
Yo ca jātisataṁ gacche,
sabbā brāhmaṇajātiyo;
Sottiyo vedasampanno,
manussesu punappunaṁ.
Ajjhāyakopi ce assa,
tiṇṇaṁ vedāna pāragū;
Etassa vandanāyetaṁ,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Yo so aṭṭha vimokkhāni,
purebhattaṁ aphassayi;
Anulomaṁ paṭilomaṁ,
tato piṇḍāya gacchati.
Tādisaṁ bhikkhuṁ māsādi,
māttānaṁ khaṇi brāhmaṇa;
Abhippasādehi manaṁ,
arahantamhi tādine;
Khippaṁ pañjaliko vanda,
mā te vijaṭi matthakaṁ”.
“Neso passati saddhammaṁ,
saṁsārena purakkhato;
Adhogamaṁ jimhapathaṁ,
kummaggamanudhāvati.
Kimīva mīḷhasallitto,
saṅkhāre adhimucchito;
Pagāḷho lābhasakkāre,
tuccho gacchati poṭṭhilo”.
“Imañca passa āyantaṁ,
sāriputtaṁ sudassanaṁ;
Vimuttaṁ ubhatobhāge,
ajjhattaṁ susamāhitaṁ.
Visallaṁ khīṇasaṁyogaṁ,
tevijjaṁ maccuhāyinaṁ;
Dakkhiṇeyyaṁ manussānaṁ,
puññakkhettaṁ anuttaraṁ”.
“Ete sambahulā devā,
iddhimanto yasassino;
Dasa devasahassāni,
sabbe brahmapurohitā;
Moggallānaṁ namassantā,
tiṭṭhanti pañjalīkatā.
‘Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Yassa te āsavā khīṇā,
dakkhiṇeyyosi mārisa’.
Pūjito naradevena,
uppanno maraṇābhibhū;
Puṇḍarīkaṁva toyena,
saṅkhārenupalippati.
Yassa muhuttena sahassadhā loko,
Saṁvidito sabrahmakappo vasi;
Iddhiguṇe cutupapāte kāle,
Passati devatā sa bhikkhu”.
“Sāriputtova paññāya,
sīlena upasamena ca;
Yopi pāraṅgato bhikkhu,
etāvaparamo siyā.
Koṭisatasahassassa,
Attabhāvaṁ khaṇena nimmine;
Ahaṁ vikubbanāsu kusalo,
Vasībhūtomhi iddhiyā.
Samādhivijjāvasipāramīgato,
Moggallānagotto asitassa sāsane;
Dhīro samucchindi samāhitindriyo,
Nāgo yathā pūtilataṁva bandhanaṁ.
Pariciṇṇo mayā satthā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ;
Ohito garuko bhāro,
bhavanetti samūhatā.
Yassa catthāya pabbajito,
agārasmānagāriyaṁ;
So me attho anuppatto,
sabbasaṁyojanakkhayo.
Kīdiso nirayo āsi,
yattha dussī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Sataṁ āsi ayosaṅkū,
sabbe paccattavedanā;
Īdiso nirayo āsi,
yattha dussī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Majjhesarasmiṁ tiṭṭhanti,
vimānā kappaṭhāyino;
Veḷuriyavaṇṇā rucirā,
accimanto pabhassarā;
Accharā tattha naccanti,
puthu nānattavaṇṇiyo.
Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo ve buddhena codito,
bhikkhusaṅghassa pekkhato;
Migāramātupāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi.
Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantapāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi;
Iddhibalenupatthaddho,
saṁvejesi ca devatā.
Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantapāsāde,
sakkaṁ so paripucchati;
Api āvuso jānāsi,
taṇhakkhayavimuttiyo;
Tassa sakko viyākāsi,
pañhaṁ puṭṭho yathātathaṁ”.
“Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo brahmānaṁ paripucchati,
Sudhammāyaṁ ṭhito sabhaṁ;
Ajjāpi tyāvuso sā diṭṭhi,
Yā te diṭṭhi pure ahu;
Passasi vītivattantaṁ,
Brahmaloke pabhassaraṁ.
Tassa brahmā viyākāsi,
pañhaṁ puṭṭho yathātathaṁ;
Na me mārisa sā diṭṭhi,
yā me diṭṭhi pure ahu.
Passāmi vītivattantaṁ,
brahmaloke pabhassaraṁ;
Sohaṁ ajja kathaṁ vajjaṁ,
ahaṁ niccomhi sassato”.
“Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo mahāneruno kūṭaṁ,
vimokkhena aphassayi;
Vanaṁ pubbavidehānaṁ,
ye ca bhūmisayā narā.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Na ve aggi cetayati,
ahaṁ bālaṁ ḍahāmīti;
Bālova jalitaṁ aggiṁ,
āsajja naṁ paḍayhati.
Evamevaṁ tuvaṁ māra,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Sayaṁ ḍahissasi attānaṁ,
bālo aggiṁva samphusaṁ.
Apuññaṁ pasavī māro,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Kiṁ nu maññasi pāpima,
na me pāpaṁ vipaccati.
Karato te cīyate pāpaṁ,
cirarattāya antaka;
Māra nibbinda buddhamhā,
āsaṁ mākāsi bhikkhusu”.
“Iti māraṁ atajjesi,
bhikkhu bhesakaḷāvane;
Tato so dummano yakkho,
tatthevantaradhāyathā”ti.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā mahāmoggallāno thero gāthāyo abhāsitthāti.
Saṭṭhinipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Saṭṭhikamhi nipātamhi,
moggallāno mahiddhiko;
Ekova theragāthāyo,
aṭṭhasaṭṭhi bhavanti tāti.
“Living in the wilderness, eating only almsfood,
happy with the scraps in our bowls,
let us tear apart the army of death,
while remaining serene within.
Living in the wilderness, eating only almsfood,
happy with the scraps in our bowls,
let us crush the army of death,
as an elephant a hut of reeds.
Living at the foot of a tree, persistent,
happy with the scraps in our bowls,
let us tear apart the army of death,
while remaining serene within.
Living at the foot of a tree, persistent,
happy with the scraps in our bowls,
let us crush the army of death,
as an elephant a hut of reeds.”
“You hut, made of a chain of bones,
sewn together with flesh and sinew;
curse you mortal frame, you stink,
you cherish the parts of others!
You sack of dung encased in skin!
You demoness with horns on your chest!
O body, you have nine streams
that are flowing all the time.
With its nine streams,
your body stinks, full of dung.
A monk seeking purity
would avoid it like excrement.
If they knew you
like I do,
they’d keep far away,
like a cesspit in the monsoon.”
“So it is, great hero!
As you say, ascetic!
But some founder here
like an old bull stuck in a bog.”
“Whoever might think
of making the sky yellow,
or some other color,
would only trouble themselves.
This mind is like the sky:
serene inside itself.
Evil-minded one, don’t attack me,
you’ll end up like a moth in a mass of fire.”
“See this fancy puppet,
a body built of sores,
diseased, obsessed over,
in which nothing lasts at all.
See this fancy figure,
with its gems and earrings;
it is bones encased in skin,
made pretty by its clothes.
Rouged feet
and powdered face
may be enough to beguile a fool,
but not a seeker of the far shore.
Hair in eight braids
and eyeshadow
may be enough to beguile a fool,
but not a seeker of the far shore.
A rotting body all adorned
like a freshly painted makeup box
may be enough to beguile a fool,
but not a seeker of the far shore.
The hunter laid his snare,
but the deer didn’t spring the trap.
I’ve eaten the bait and now I go,
leaving the trapper to lament.
The hunter’s trap is broken,
but the deer didn’t spring the trap.
I’ve eaten the bait and now I go,
leaving the deer-hunter to grieve.”
“Then there was terror!
Then they had goosebumps!
When Sāriputta, endowed with many fine qualities,
became quenched.
Oh! Conditions are impermanent,
their nature is to rise and fall;
having arisen, they cease;
their settling is such bliss.”
“Those who see the five aggregates
as other, not as self,
penetrate a subtle thing,
like a hair-tip with an arrow.
Those who see conditions
as alien, not as self,
pierce a fine thing,
like a hair-tip with an arrow.”
“Like they’re struck by a sword,
like their head was on fire,
a mendicant should wander mindful,
to give up sensual desire.
Like they’re struck by a sword,
like their head was on fire,
a mendicant should wander mindful,
to give up desire for rebirth.”
“Urged by the developed one,
who bore his final body,
I shook the stilt longhouse of Migāra’s mother
with my big toe.”
“Not by being slack,
or with little strength
may this be realized—extinguishment,
the release from all ties.”
“This young monk,
this best of men,
bears his final body,
having vanquished Māra and his legions.”
“Lightning flashes down
on the cleft of Vebhāra and Paṇḍava.
But in the mountain cleft he is absorbed in jhāna—
the son of the Buddha, inimitable and unaffected.”
“Calm and still,
the sage in his remote lodging,
the heir to the best of Buddhas,
is honored even by the Divinity.
Calm and still,
the sage in his remote lodging,
is heir to the best of Buddhas:
Brahmin, you should honor Kassapa!
Even if someone were to be born again and again
a hundred times in the human realm,
and always as a brahmin,
a student accomplished in the Vedas;
and if he were to become a reciter,
a master of the three Vedas:
honoring such a person
isn’t worth a sixteenth of that.
One who attains the eight liberations
forwards and backwards
before breakfast,
and then goes on almsround—
don’t attack such a mendicant!
Don’t ruin yourself, brahmin!
Let your heart have trust
in the perfected one, the unaffected;
quickly venerate him with joined palms:
don’t let your head explode!”
“If you prioritize transmigration,
you don’t see the true teaching.
You’re following a twisted path,
a bad path that will lead you down.
Like a worm smeared with dung,
he is besotted with conditions.
Consumed by gain and honor,
Poṭṭhila goes on, hollow.”
“See Sāriputta coming!
It is good to see him;
he is freed in both ways,
serene inside himself;
free of thorns, with yoking ended,
master of the three knowledges, conqueror of death;
worthy of offerings,
a supreme field of merit for the people.”
“These many gods,
powerful and glorious,
all 10,000 of them,
are priests of Divinity.
They stand with joined palms
honoring Moggallāna:
‘Homage to you, O thoroughbred!
Homage to you, supreme among men!
Since your defilements are ended,
you, good fellow, are worthy of teacher’s offerings.’
Venerated by the lordly god,
he has arisen, the master of death.
He is unsmeared by conditions,
as a lotus-flower by water.”
“The mendicant by whom the galaxy
with the age of the Divinity are known in an hour—
that master of psychic ability sees the gods
at the time they pass away and are reborn.”
“Sāriputta is full of wisdom,
ethics, and peace.
Even a mendicant who has crossed over
might at best equal him.
But in a moment I can create the likenesses
of ten million times 100,000 people!
I’m skilled in transformations;
I’m a master of psyshic powers.
A member of the Moggallāna clan, attained to perfection and mastery
in immersion and knowledge, wise in the teachings of the unattached,
with serene faculties, has burst his bonds
like an elephant bursts a vine.
I’ve served the teacher
and fulfilled the Buddha’s instructions.
The heavy burden is laid down,
the leash to existence is eradicated.
I’ve attained the goal
for the sake of which I went forth
from the lay life to homelessness—
the end of all fetters.”
“What kind of hell was that,
where Dūsī was roasted
after attacking the disciple Vidhura
along with the brahmin Kakusandha?
There were 100 iron spikes,
each one uniquely painful.
That’s the kind of hell
where Dūsī was roasted
after attacking the disciple Vidhura
along with the brahmin Kakusandha.
Dark One, if you attack
a mendicant who directly knows this,
a disciple of the Buddha,
you’ll fall into suffering.
There are mansions that last an eon
standing in the middle of a lake.
Sapphire-colored, brilliant,
they sparkle and shine.
Dancing there are nymphs
shining in all different colors.
Dark One, if you attack
a mendicant who directly knows this,
a disciple of the Buddha,
you’ll fall into suffering.
I’m the one who, urged by the Buddha,
shook the stilt longhouse of Migāra’s mother
with his big toe
as the Saṅgha of mendicants watched.
Dark One, if you attack
a mendicant who directly knows this,
a disciple of the Buddha,
you’ll fall into suffering.
I’m the one who shook the Palace of Victory
with his big toe
owing to psychic power,
inspiring deities to awe.
Dark One, if you attack
a mendicant who directly knows this,
a disciple of the Buddha,
you’ll fall into suffering.
I’m the one who asked Sakka
in the Palace of Victory:
‘Respectable sir, I hope you recall
the one who is freed through the ending of craving?’
And I’m the one to whom Sakka
admitted the truth when asked.
Dark One, if you attack
a mendicant who directly knows this,
a disciple of the Buddha,
you’ll fall into suffering.
I’m the one who asked the Divinity
in the Hall of Clear Right before the assembly:
‘Respectable sir, do you still have the same view
that you had in the past?
Or do you see the radiance
surpassing the realm of divinity?’
And I’m the one to whom the Divinity
admitted the truth when asked.
‘Good fellow, I don’t have that view
that I had in the past.
I see the radiance
surpassing the realm of divinity.
So how could I say today
that I am permanent and eternal?’
Dark One, if you attack
a mendicant who directly knows this,
a disciple of the Buddha,
you’ll fall into suffering.
I’m the one who touched the peak of Mount Neru
using the power of meditative liberation.
I’ve visited the forests of the people
who dwell in the land east of Videha.
Dark One, if you attack
a mendicant who directly knows this,
a disciple of the Buddha,
you’ll fall into suffering.
Though a fire doesn’t think:
‘I’ll burn the fool!’
Still the fool who attacks
the fire gets burnt.
In the same way, Māra,
in attacking the Realized One,
you’ll only burn yourself,
like a fool touching the flames.
Māra’s done a bad thing
in attacking the Realized One.
Wicked One, do you imagine that
your wickedness won’t bear fruit?
Your deeds heap up wickedness
that will last a long time, Terminator!
Give up on the Buddha, Māra!
And hold no hope for the mendicants!”
That is how, in the Bhesekaḷā grove,
the mendicant condemned Māra.
That spirit, downcast,
disappeared right there.
That is how these verses were recited by the senior venerable Mahāmoggallāna.
The Book of the Sixties is finished.
BJT 1152“Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, nội tâm khéo được định tĩnh, chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
BJT 1153Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
BJT 1154Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, khéo được định tĩnh nội tâm, chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
BJT 1155Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực, chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
BJT 1156‘Này cái chòi nhỏ có khung sườn là xương, được khâu lại với thịt và gân. Thật ghê tởm những thân xác với mùi khó chịu, nàng còn âu yếm thân thể của người khác.
BJT 1157Này cái túi chứa phân, này vật được gói lại bằng lớp da, này nữ yêu tinh có (hai) khối u ở ngực, chín dòng chảy ở thân thể của nàng luôn luôn tuôn trào.
BJT 1158Cơ thể của nàng có chín dòng chảy, tạo ra mùi khó chịu, là vật chướng ngại. Vị tỳ khưu tránh xa nó, giống như tránh xa cục phân, với ước muốn được trong sạch.
BJT 1159Nếu người ta biết về nàng, giống như ta biết về nàng, họ sẽ tránh né ra xa, như là (tránh xa) bãi chứa phân vào lúc mưa.’
BJT 1160‘Thưa vị đại anh hùng, thưa ngài Sa-môn, điều ấy là như vậy, giống như ngài đã nói. Và nhiều người chìm đắm ở nơi này, tựa như con bò già (chìm đắm) ở vũng lầy.’
BJT 1161‘Kẻ nào suy nghĩ để tô màu vàng nghệ hoặc bất cứ màu nào khác ở bầu trời, việc ấy chỉ đem lại phiền muộn.
BJT 1162Tâm này, tương tự như bầu trời, nội phần khéo được định tĩnh. Này cô nàng có tâm địa xấu xa, chớ công kích, tựa như loài bướm đêm công kích đống lửa.
BJT 1163Hãy nhìn xem bóng dáng được vẽ màu, nơi hội tụ các vết thương, được dựng lên (bằng ba trăm khúc xương), bệnh hoạn, nhiều suy tư (sái quấy), không có sự tồn tại trường cửu.
BJT 1164Hãy nhìn xem vóc dáng được vẽ màu, với ngọc ma-ni và với bông tai; là xương được bọc lại bởi da, nó rạng rỡ nhờ những vải vóc.
BJT 1165Các bàn chân được sơn màu đỏ, khuôn mặt được bôi phấn bột, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1166Các sợi tóc được làm thành tám lớp, các con mắt được bôi thuốc màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1167Thân thể hôi thối đã được trang điểm tựa như hộp thuốc bôi đã được vẽ màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1168Thợ săn đã đặt bẫy mồi, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ bắt thú đang than vãn.
BJT 1169Cái bẫy mồi của gã thợ săn đã bị đứt lìa, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ săn thú sầu muộn.’
BJT 1170Khi Sāriputta, vị đã thành tựu nhiều biểu hiện, Niết Bàn, khi ấy đã có sự kinh sợ, khi ấy đã có sự nổi da gà.
BJT 1171Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có pháp sanh và diệt, sau khi sanh lên chúng hoại diệt, sự tịnh lặng của chúng là an lạc.
BJT 1172Những người nào nhìn thấy năm uẩn là cái khác, không phải là bản ngã, những người ấy thấu triệt điều tinh vi, giống như xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
BJT 1173Và những người nào nhìn thấy các hành là cái khác, không phải là bản ngã, những người ấy đã thấu triệt điều vi tế, giống như đã xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
BJT 1174Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục.
BJT 1175Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở hiện hữu.
BJT 1176Được khích lệ bởi vị có bản thân đã được tu tập, bởi vị có sự mang thân mạng cuối cùng, bằng ngón chân cái tôi đã làm rung động tòa lâu đài của Migāramātu.
BJT 1177Niết Bàn, sự thoát khỏi tất cả các mối buộc thắt, có thể được chứng đắc; việc này không liên quan sự lơi lỏng, không phải với chút ít sức lực.
BJT 1178Và vị tỳ khưu trẻ này, con người tối thượng này, mang thân mạng cuối cùng, sau khi chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.
BJT 1179Các tia sét đã đánh dọc theo khe núi Vebhāra và Paṇḍava, người con trai của bậc không người đối xứng như thế ấy đã đi vào khe núi, tham thiền.
BJT 1180Bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế, có chỗ ngụ xa vắng, là người thừa tự của đức Phật tối thượng, được đấng Phạm Thiên lễ bái.
BJT 1181Này Bà-la-môn, hãy đảnh lễ vị Kassapa, bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế, có chỗ ngụ xa vắng, là người thừa tự của đức Phật tối thượng.
BJT 1182Và người nào có thể trải qua một trăm kiếp sống ở giữa loài người lần này lần khác, tất cả đều là dòng dõi Bà-la-môn, có các sự tốt lành, thành tựu về kinh Vệ Đà.
BJT 1183Thậm chí nếu có thể là người giảng dạy, vượt qua bờ kia của ba bộ Vệ Đà, việc ấy không giá trị bằng một phần mười sáu của việc đảnh lễ đến vị (Kassapa) ấy.
BJT 1184Vị ấy, trước bữa ăn, đã chạm đến tám (thiền) giải thoát, thuận chiều và nghịch chiều, sau đó mới đi khất thực.
BJT 1185Này Bà-la-môn, chớ công kích vị tỳ khưu như thế ấy, chớ đào sâu bản ngã, ngươi hãy khởi tâm tịnh tín ở vị A-la-hán như thế ấy, hãy mau chắp tay đảnh lễ, chớ làm vỡ tan cái đầu của ngươi.
BJT 1186Bị dẫn đầu bởi sự luân hồi, kẻ này không nhìn thấy Diệu Pháp, gã chạy theo con đường sai trái, con đường cong quẹo dẫn xuống phía dưới.
BJT 1187Tựa như con dòi bị lấm lem bởi phẩn, bị bám víu vào pháp hữu vi, bị đắm chìm trong lợi lộc và sự tôn vinh, Poṭhila rỗng không ra đi.
BJT 1188Và hãy nhìn xem vị Sāriputta đang đi đến, có dáng vẻ tốt đẹp, đã được giải thoát ở cả hai phần, nội tâm khéo được định tĩnh.
BJT 1189Vị không còn mũi tên, có sự ràng buộc đã được cạn kiệt, có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, bậc đáng được cúng dường, là thửa ruộng phước vô thượng của loài người.
BJT 1190Nhiều vị Thiên nhân này, có thần thông, có danh tiếng, tất cả mười ngàn vị Thiên nhân được dẫn đầu bởi đấng Phạm Thiên, đứng, chắp tay lại, đang lễ bái vị Moggallāna.
BJT 1191‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Các lậu hoặc của ngài đã được cạn kiệt. Thưa ngài, ngài là bậc đáng được cúng dường.’
BJT 1192Được người và trời tôn vinh, bậc chế ngự Thần Chết đã được hiện khởi, không bị lấm lem bởi pháp hữu vi, tựa như loài sen không bị lấm lem bởi nước.
BJT 1193Vị tỳ khưu ấy, với năng lực về các loại thần thông, về việc tử và sanh, nhìn thấy chư Thiên vào lúc hợp thời, đối với vị ấy thế gian luôn cả Phạm Thiên giới được nhận biết bằng một ngàn cách trong giây lát.
BJT 1194Còn vị tỳ khưu đã đi đến bờ kia, nếu là tối thắng y như thế ấy, chính là vị Sāriputta, với tuệ, với giới, và với sự an tịnh.
BJT 1195Tôi có thể biến hóa ra trăm ngàn koṭi bản thể của mình trong giây lát. Là thiện xảo trong các việc biến hóa, tôi có được năng lực về thần thông.
BJT 1196Vị dòng dõi Moggallāna, đã đi đến sự toàn hảo về năng lực của định và minh trong Giáo Pháp của bậc không bị vướng mắc, là vị thông minh, có giác quan được định tĩnh, đã cắt đứt sự trói buộc, giống như con voi giật đứt sợi dây rừng thối tha.
BJT 1197Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 1198Vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia, rời nhà sống không nhà, mục đích ấy của tôi, sự cạn kiệt tất cả các điều ràng buộc, đã được thành tựu.
BJT 1199Địa ngục, nơi mà Dussī đã bị nung nấu sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác), đã là như thế nào?
BJT 1200Đã là trăm cây cọc sắt, tất cả có cảm thọ riêng biệt. Địa ngục, nơi mà Dussī đã bị nung nấu sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác), đã là như thế này.
BJT 1201Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1202Các cung điện ngự ở giữa hồ, có sự tồn tại một kiếp, có màu ngọc bích, xinh đẹp, rực rỡ, chói lọi. Nơi ấy, nhiều tiên nữ nhảy múa, có bản thể và màu sắc khác biệt.
BJT 1203Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1204Đúng vậy, vị này, được khích lệ bởi đức Phật, trong khi hội chúng tỳ khưu đang chứng kiến, đã làm rung động tòa lâu đài của Migāramātu bằng ngón chân cái.
BJT 1205Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1206Được hỗ trợ bởi năng lực của thần thông, vị này đã làm rung động tòa lâu đài Vejayanta bằng ngón chân cái, và đã làm chư Thiên kinh động.
BJT 1207Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1208Ở tòa lâu đài Vejayanta, vị này hỏi (Thiên Chủ) Sakka rằng: ‘Thưa ngài, có phải ngài cũng biết về các sự giải thoát do sự cạn kiệt của tham ái?’ Được hỏi câu hỏi, (Thiên Chủ) Sakka đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật.
BJT 1209Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1210Đứng tại cuộc hội họp ở Sudhammā, vị này hỏi đấng (Đại) Phạm Thiên rằng: ‘Thưa ngài, thậm chí hôm nay quan điểm ấy của ngài cũng là quan điểm của ngài đã có trước kia? Ngài có nhìn thấy sự chói lọi ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần không?’
BJT 1211Được hỏi câu hỏi, Phạm Thiên đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật rằng: ‘Thưa ngài, quan điểm ấy không còn là của tôi, đó là quan điểm của tôi đã có trước kia.
BJT 1212Tôi nhìn thấy sự chói lọi ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần. Làm thế nào hôm nay tôi đây có thể nói: Tôi là thường hằng, là trường tồn được?’
BJT 1213Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật. Này Kaṇha, sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy, ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
BJT 1214Bằng sự giải thoát, vị này đã sờ vào chóp đỉnh của núi Neru vĩ đại, (luôn cả) khu rừng thuộc về Châu Pubbavideha, và những người đàn ông nằm ở mặt đất (thuộc Châu Uttarakuru).
BJT 1215Thật vậy, ngọn lửa không nghĩ rằng: ‘Ta thiêu đốt kẻ ngu;’ chỉ có kẻ ngu bị thiêu đốt sau khi công kích ngọn lửa đã được cháy rực.
BJT 1216Này Ma Vương, tương tự y như thế, sau khi công kích đức Như Lai, ngươi sẽ thiêu đốt bản thân chính mình, tựa như kẻ ngu chạm vào ngọn lửa.
BJT 1217Sau khi công kích đức Như Lai, Ma Vương đã tạo ra điều vô phước. Này kẻ xấu xa, phải chăng ngươi nghĩ rằng: ‘Việc ác của ta không kết quả?’
BJT 1218Này Thần Chết, việc ác của ngươi đang làm được tích lũy thời gian lâu dài. Này Ma Vương, ngươi hãy lánh xa đức Phật, ngươi chớ làm khó các vị tỳ khưu.
BJT 1219Vị tỳ khưu ở khu rừng bhesakalā đã quở trách Ma Vương như thế. Do đó, Dạ-xoa ấy, buồn rầu, đã biến mất ngay tại chỗ ấy.”
Đại đức trưởng lão Mahāmoggallāna đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahāmoggallāna.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Sáu Mươi, vị Moggallāna có đại thần lực là vị trưởng lão độc nhất, các câu kệ ấy là sáu mươi tám.”
Nhóm Sáu Mươi được chấm dứt.
“Āraññikā piṇḍapātikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dālemu maccuno senaṁ,
ajjhattaṁ susamāhitā.
Āraññikā piṇḍapātikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dhunāma maccuno senaṁ,
naḷāgāraṁva kuñjaro.
Rukkhamūlikā sātatikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dālemu maccuno senaṁ,
ajjhattaṁ susamāhitā.
Rukkhamūlikā sātatikā,
uñchāpattāgate ratā;
Dhunāma maccuno senaṁ,
naḷāgāraṁva kuñjaro”.
“Aṭṭhikaṅkalakuṭike,
maṁsanhārupasibbite;
Dhiratthu pure duggandhe,
paragatte mamāyase.
Gūthabhaste taconaddhe,
uragaṇḍipisācini;
Nava sotāni te kāye,
yāni sandanti sabbadā.
Tava sarīraṁ navasotaṁ,
Duggandhakaraṁ paribandhaṁ;
Bhikkhu parivajjayate taṁ,
Mīḷhaṁ ca yathā sucikāmo.
Evañce taṁ jano jaññā,
yathā jānāmi taṁ ahaṁ;
Ārakā parivajjeyya,
gūthaṭṭhānaṁva pāvuse”.
“Evametaṁ mahāvīra,
yathā samaṇa bhāsasi;
Ettha ceke visīdanti,
paṅkamhiva jaraggavo”.
“Ākāsamhi haliddiyā,
yo maññetha rajetave;
Aññena vāpi raṅgena,
vighātudayameva taṁ.
Tadākāsasamaṁ cittaṁ,
ajjhattaṁ susamāhitaṁ;
Mā pāpacitte āsādi,
aggikhandhaṁva pakkhimā”.
“Passa cittakataṁ bimbaṁ,
arukāyaṁ samussitaṁ;
Āturaṁ bahusaṅkappaṁ,
yassa natthi dhuvaṁ ṭhiti.
Passa cittakataṁ rūpaṁ,
maṇinā kuṇḍalena ca;
Aṭṭhiṁ tacena onaddhaṁ,
saha vatthehi sobhati.
Alattakakatā pādā,
mukhaṁ cuṇṇakamakkhitaṁ;
Alaṁ bālassa mohāya,
no ca pāragavesino.
Aṭṭhapadakatā kesā,
nettā añjanamakkhitā;
Alaṁ bālassa mohāya,
no ca pāragavesino.
Añjanīva navā cittā,
pūtikāyo alaṅkato;
Alaṁ bālassa mohāya,
no ca pāragavesino.
Odahi migavo pāsaṁ,
nāsadā vāguraṁ migo;
Bhutvā nivāpaṁ gacchāma,
kaddante migabandhake.
Chinno pāso migavassa,
nāsadā vāguraṁ migo;
Bhutvā nivāpaṁ gacchāma,
socante migaluddake”.
“Tadāsi yaṁ bhiṁsanakaṁ,
tadāsi lomahaṁsanaṁ;
Anekākārasampanne,
sāriputtamhi nibbute.
Aniccā vata saṅkhārā,
uppādavayadhammino;
Upajjitvā nirujjhanti,
tesaṁ vūpasamo sukho.
Sukhumaṁ te paṭivijjhanti,
vālaggaṁ usunā yathā;
Ye pañcakkhandhe passanti,
parato no ca attato.
Ye ca passanti saṅkhāre,
parato no ca attato;
Paccabyādhiṁsu nipuṇaṁ,
vālaggaṁ usunā yathā.
Sattiyā viya omaṭṭho,
ḍayhamānova matthake;
Kāmarāgappahānāya,
sato bhikkhu paribbaje.
Sattiyā viya omaṭṭho,
ḍayhamānova matthake;
Bhavarāgappahānāya,
sato bhikkhu paribbaje.
Codito bhāvitattena,
sarīrantimadhārinā;
Migāramātupāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayiṁ.
Nayidaṁ sithilamārabbha,
nayidaṁ appena thāmasā;
Nibbānamadhigantabbaṁ,
sabbaganthapamocanaṁ.
Ayañca daharo bhikkhu,
ayamuttamaporiso;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhiniṁ.
Vivaramanupabhanti vijjutā,
Vebhārassa ca paṇḍavassa ca;
Nagavivaragato jhāyati,
Putto appaṭimassa tādino.
Upasanto uparato,
pantasenāsano muni;
Dāyādo buddhaseṭṭhassa,
brahmunā abhivandito”.
“Upasantaṁ uparataṁ,
pantasenāsanaṁ muniṁ;
Dāyādaṁ buddhaseṭṭhassa,
vanda brāhmaṇa kassapaṁ.
Yo ca jātisataṁ gacche,
sabbā brāhmaṇajātiyo;
Sottiyo vedasampanno,
manussesu punappunaṁ.
Ajjhāyakopi ce assa,
tiṇṇaṁ vedāna pāragū;
Etassa vandanāyetaṁ,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Yo so aṭṭha vimokkhāni,
purebhattaṁ aphassayi;
Anulomaṁ paṭilomaṁ,
tato piṇḍāya gacchati.
Tādisaṁ bhikkhuṁ māsādi,
māttānaṁ khaṇi brāhmaṇa;
Abhippasādehi manaṁ,
arahantamhi tādine;
Khippaṁ pañjaliko vanda,
mā te vijaṭi matthakaṁ”.
“Neso passati saddhammaṁ,
saṁsārena purakkhato;
Adhogamaṁ jimhapathaṁ,
kummaggamanudhāvati.
Kimīva mīḷhasallitto,
saṅkhāre adhimucchito;
Pagāḷho lābhasakkāre,
tuccho gacchati poṭṭhilo”.
“Imañca passa āyantaṁ,
sāriputtaṁ sudassanaṁ;
Vimuttaṁ ubhatobhāge,
ajjhattaṁ susamāhitaṁ.
Visallaṁ khīṇasaṁyogaṁ,
tevijjaṁ maccuhāyinaṁ;
Dakkhiṇeyyaṁ manussānaṁ,
puññakkhettaṁ anuttaraṁ”.
“Ete sambahulā devā,
iddhimanto yasassino;
Dasa devasahassāni,
sabbe brahmapurohitā;
Moggallānaṁ namassantā,
tiṭṭhanti pañjalīkatā.
‘Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Yassa te āsavā khīṇā,
dakkhiṇeyyosi mārisa’.
Pūjito naradevena,
uppanno maraṇābhibhū;
Puṇḍarīkaṁva toyena,
saṅkhārenupalippati.
Yassa muhuttena sahassadhā loko,
Saṁvidito sabrahmakappo vasi;
Iddhiguṇe cutupapāte kāle,
Passati devatā sa bhikkhu”.
“Sāriputtova paññāya,
sīlena upasamena ca;
Yopi pāraṅgato bhikkhu,
etāvaparamo siyā.
Koṭisatasahassassa,
Attabhāvaṁ khaṇena nimmine;
Ahaṁ vikubbanāsu kusalo,
Vasībhūtomhi iddhiyā.
Samādhivijjāvasipāramīgato,
Moggallānagotto asitassa sāsane;
Dhīro samucchindi samāhitindriyo,
Nāgo yathā pūtilataṁva bandhanaṁ.
Pariciṇṇo mayā satthā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ;
Ohito garuko bhāro,
bhavanetti samūhatā.
Yassa catthāya pabbajito,
agārasmānagāriyaṁ;
So me attho anuppatto,
sabbasaṁyojanakkhayo.
Kīdiso nirayo āsi,
yattha dussī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Sataṁ āsi ayosaṅkū,
sabbe paccattavedanā;
Īdiso nirayo āsi,
yattha dussī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Majjhesarasmiṁ tiṭṭhanti,
vimānā kappaṭhāyino;
Veḷuriyavaṇṇā rucirā,
accimanto pabhassarā;
Accharā tattha naccanti,
puthu nānattavaṇṇiyo.
Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo ve buddhena codito,
bhikkhusaṅghassa pekkhato;
Migāramātupāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi.
Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantapāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi;
Iddhibalenupatthaddho,
saṁvejesi ca devatā.
Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantapāsāde,
sakkaṁ so paripucchati;
Api āvuso jānāsi,
taṇhakkhayavimuttiyo;
Tassa sakko viyākāsi,
pañhaṁ puṭṭho yathātathaṁ”.
“Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo brahmānaṁ paripucchati,
Sudhammāyaṁ ṭhito sabhaṁ;
Ajjāpi tyāvuso sā diṭṭhi,
Yā te diṭṭhi pure ahu;
Passasi vītivattantaṁ,
Brahmaloke pabhassaraṁ.
Tassa brahmā viyākāsi,
pañhaṁ puṭṭho yathātathaṁ;
Na me mārisa sā diṭṭhi,
yā me diṭṭhi pure ahu.
Passāmi vītivattantaṁ,
brahmaloke pabhassaraṁ;
Sohaṁ ajja kathaṁ vajjaṁ,
ahaṁ niccomhi sassato”.
“Yo etamabhijānāti,
… pe
…
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo mahāneruno kūṭaṁ,
vimokkhena aphassayi;
Vanaṁ pubbavidehānaṁ,
ye ca bhūmisayā narā.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Na ve aggi cetayati,
ahaṁ bālaṁ ḍahāmīti;
Bālova jalitaṁ aggiṁ,
āsajja naṁ paḍayhati.
Evamevaṁ tuvaṁ māra,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Sayaṁ ḍahissasi attānaṁ,
bālo aggiṁva samphusaṁ.
Apuññaṁ pasavī māro,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Kiṁ nu maññasi pāpima,
na me pāpaṁ vipaccati.
Karato te cīyate pāpaṁ,
cirarattāya antaka;
Māra nibbinda buddhamhā,
āsaṁ mākāsi bhikkhusu”.
“Iti māraṁ atajjesi,
bhikkhu bhesakaḷāvane;
Tato so dummano yakkho,
tatthevantaradhāyathā”ti.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā mahāmoggallāno thero gāthāyo abhāsitthāti.
Saṭṭhinipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Saṭṭhikamhi nipātamhi,
moggallāno mahiddhiko;
Ekova theragāthāyo,
aṭṭhasaṭṭhi bhavanti tāti.