TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần, thân cận, chia xẻ trú xứ thành tựu năm chi phần, không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Và này các Ty-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Vị ấy không lừa đảo, man trá, nêu rõ mình như chân đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (của các pháp), thể nhập thánh quyết trạch đưa đến chơn chánh, đoạn diệt khổ đau.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần. Này các Tỷ-kheo, như thế nào là trú xứ thành tựu năm chi phần?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, trú xứ không quá xa, không quá gần, thuận tiện cho đi và đến, ban ngày không đông đủ, ban đêm không ồn ào, không huyên náo, ít xúc chạm với ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, và các loại rắn rít. Trú tại trú xứ ấy, tìm được không mệt nhọc các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Tại trú xứ ấy, các trưởng lão Tỷ-kheo đến ở là những bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu, thường thường đến các vị ấy tìm hiểu, hỏi han: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì? “ Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa mở rộng, trình bày những gì chưa trình bày, đối với những vấn đề còn khởi lên những nghi vấn, vị ấy giải tỏa các nghi vấn ấy. Này các Tỷ-kheo, trú xứ như vậy thành tựu năm chi phần.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần, thân cận chia xẻ trú xứ thành tựu năm chi phần, không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí có thể chứng ngộ chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
“Pañcaṅgasamannāgato, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgataṁ senāsanaṁ sevamāno bhajamāno nacirasseva āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgato hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu saddho hoti; saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
‘itipi so bhagavā …pe… bhagavā’ti;
appābādho hoti appātaṅko, samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya;
asaṭho hoti amāyāvī, yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu;
āraddhavīriyo viharati, akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya; thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu;
paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgato hoti.
Kathañca, bhikkhave, senāsanaṁ pañcaṅgasamannāgataṁ hoti?
Idha, bhikkhave, senāsanaṁ nātidūraṁ hoti nāccāsannaṁ gamanāgamanasampannaṁ
divā appākiṇṇaṁ rattiṁ appasaddaṁ appanigghosaṁ
appaḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassaṁ;
tasmiṁ kho pana senāsane viharantassa appakasirena uppajjanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā;
tasmiṁ kho pana senāsane therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā;
te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati paripañhati:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti;
tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti anuttānīkatañca uttāniṁ karonti anekavihitesu ca kaṅkhāṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti.
Evaṁ kho, bhikkhave, senāsanaṁ pañcaṅgasamannāgataṁ hoti.
Pañcaṅgasamannāgato kho, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgataṁ senāsanaṁ sevamāno bhajamāno nacirasseva āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, when a bhikkhu who possesses five factors resorts to and uses a lodging that possesses five factors, in no long time, with the destruction of the taints, he might realize for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, dwell in it.
SC 2“And how, bhikkhus, does a bhikkhu possess five factors?
SC 3(1) “Here, a bhikkhu is endowed with faith. He has faith in the enlightenment of the Tathāgata thus: ‘The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.’
SC 4(2) “He is seldom ill or afflicted, possessing an even digestion that is neither too cool nor too hot but moderate and suitable for striving.
SC 5(3) “He is honest and open, one who reveals himself as he really is to the Teacher and his wise fellow monks.
SC 6(4) “He has aroused energy for abandoning unwholesome qualities and acquiring wholesome qualities; he is strong, firm in exertion, not casting off the duty of cultivating wholesome qualities.
SC 7(5) “He is wise; he possesses the wisdom that discerns arising and passing away, which is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering.
SC 8“It is in this way that a bhikkhu possesses five factors.
“And how does a lodging possess five factors?
SC 9(6) “Here, the lodging is neither too far from a place for alms nor too close, and it possesses a means for going and returning.
SC 10(7) “During the day it is not disturbed by people and at night it is quiet and still.
SC 11(8) “There is little contact with flies, mosquitoes, wind, the burning sun, and serpents.
SC 12(9) “One dwelling in that lodging can easily obtain robes, almsfood, lodging, and medicines and provisions for the sick.
SC 13(10) “In that lodging elder bhikkhus are dwelling who are learned, heirs to the heritage, an.v.16 experts on the Dhamma, experts on the discipline, experts on the outlines. He approaches them from time to time and inquires: ‘How is this, Bhante? What is the meaning of this?’ Those venerable ones then disclose to him what has not been disclosed, clear up what is obscure, and dispel his perplexity about numerous perplexing points.
SC 14“It is in this way that a lodging possesses five factors.
SC 15“When a bhikkhu who possesses these five factors resorts to and uses a lodging that possesses these five factors, in no long time, with the destruction of the taints, he might realize for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, dwell in it.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần, thân cận, chia xẻ trú xứ thành tựu năm chi phần, không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Và này các Ty-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Vị ấy không lừa đảo, man trá, nêu rõ mình như chân đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (của các pháp), thể nhập thánh quyết trạch đưa đến chơn chánh, đoạn diệt khổ đau.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần. Này các Tỷ-kheo, như thế nào là trú xứ thành tựu năm chi phần?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, trú xứ không quá xa, không quá gần, thuận tiện cho đi và đến, ban ngày không đông đủ, ban đêm không ồn ào, không huyên náo, ít xúc chạm với ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, và các loại rắn rít. Trú tại trú xứ ấy, tìm được không mệt nhọc các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Tại trú xứ ấy, các trưởng lão Tỷ-kheo đến ở là những bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu, thường thường đến các vị ấy tìm hiểu, hỏi han: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì? “ Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa mở rộng, trình bày những gì chưa trình bày, đối với những vấn đề còn khởi lên những nghi vấn, vị ấy giải tỏa các nghi vấn ấy. Này các Tỷ-kheo, trú xứ như vậy thành tựu năm chi phần.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần, thân cận chia xẻ trú xứ thành tựu năm chi phần, không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí có thể chứng ngộ chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
“Pañcaṅgasamannāgato, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgataṁ senāsanaṁ sevamāno bhajamāno nacirasseva āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgato hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu saddho hoti; saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
‘itipi so bhagavā …pe… bhagavā’ti;
appābādho hoti appātaṅko, samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya;
asaṭho hoti amāyāvī, yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu;
āraddhavīriyo viharati, akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya; thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu;
paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgato hoti.
Kathañca, bhikkhave, senāsanaṁ pañcaṅgasamannāgataṁ hoti?
Idha, bhikkhave, senāsanaṁ nātidūraṁ hoti nāccāsannaṁ gamanāgamanasampannaṁ
divā appākiṇṇaṁ rattiṁ appasaddaṁ appanigghosaṁ
appaḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassaṁ;
tasmiṁ kho pana senāsane viharantassa appakasirena uppajjanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā;
tasmiṁ kho pana senāsane therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā;
te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati paripañhati:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti;
tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti anuttānīkatañca uttāniṁ karonti anekavihitesu ca kaṅkhāṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti.
Evaṁ kho, bhikkhave, senāsanaṁ pañcaṅgasamannāgataṁ hoti.
Pañcaṅgasamannāgato kho, bhikkhave, bhikkhu pañcaṅgasamannāgataṁ senāsanaṁ sevamāno bhajamāno nacirasseva āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti.
Paṭhamaṁ.