TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ananda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo tốt đẹp”. Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 6Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 7Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 8Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 9Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đại căn cứ địa này.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bhoganagare viharati ānandacetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“cattārome, bhikkhave, mahāpadese desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katame, bhikkhave, cattāro mahāpadesā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
imassa ca bhikkhuno duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
imassa ca bhikkhuno suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho.
Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca saṅghassa duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho.
Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni, vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca saṅghassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā.
Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tesañca therānaṁ duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā.
Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tesañca therānaṁ suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo.
Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca therassa duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo.
Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca therassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Ime kho, bhikkhave, cattāro mahāpadesā”ti.
Dasamaṁ.
Sañcetaniyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Cetanā vibhatti koṭṭhiko,
Ānando upavāṇapañcamaṁ;
Āyācana rāhula jambālī,
Nibbānaṁ mahāpadesenāti.
At one time the Buddha was staying near the Bhoga City, at the Ānanda Shrine.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, I will teach you the four great references.
Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, what are the four great references?
Take a mendicant who says:
‘Reverend, I have heard and learned this in the presence of the Buddha:
this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been incorrectly memorized by that mendicant.’
And so you should discard it.
Take another mendicant who says:
‘Reverend, I have heard and learned this in the presence of the Buddha:
this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been correctly memorized by that mendicant.’
You should remember it. This is the first great reference.
Take another mendicant who says:
‘In such-and-such monastery lives a Saṅgha with seniors and leaders.
I’ve heard and learned this in the presence of that Saṅgha:
this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been incorrectly memorized by that Saṅgha.’
And so you should discard it.
Take another mendicant who says:
‘In such-and-such monastery lives a Saṅgha with seniors and leaders.
I’ve heard and learned this in the presence of that Saṅgha:
this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been correctly memorized by that Saṅgha.’
You should remember it. This is the second great reference.
Take another mendicant who says:
‘In such-and-such monastery there are several senior mendicants who are very learned, inheritors of the heritage, who remember the teachings, the monastic law, and the outlines.
I’ve heard and learned this in the presence of those senior mendicants:
this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been incorrectly memorized by those senior mendicants.’
And so you should discard it.
Take another mendicant who says:
‘In such-and-such monastery there are several senior mendicants who are very learned, inheritors of the heritage, who remember the teachings, the monastic law, and the outlines.
I’ve heard and learned this in the presence of those senior mendicants:
this is the teaching, this is the monastic law, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been correctly memorized by those senior mendicants.’
You should remember it. This is the third great reference.
Take another mendicant who says:
‘In such-and-such monastery there is a single senior mendicant who is very learned, an inheritor of the heritage, who has memorized the teachings, the monastic law, and the outlines.
I’ve heard and learned this in the presence of that senior mendicant:
this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is not the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been incorrectly memorized by that senior mendicant.’
And so you should discard it.
Take another mendicant who says:
‘In such-and-such monastery there is a single senior mendicant who is very learned, an inheritor of the heritage, who has memorized the teachings, the monastic law, and the outlines.
I’ve heard and learned this in the presence of that senior mendicant:
this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement.
Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training.
If they fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion:
‘Clearly this is the word of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
It has been correctly memorized by that senior mendicant.’
You should remember it. This is the fourth great reference.
These are the four great references.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại điện Ananda. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về bốn đại căn cứ địa này. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn đại căn cứ địa?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo tốt đẹp”. Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 6Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 7Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ trì.
TTC 8Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
TTC 9Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: “Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đại căn cứ địa này.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bhoganagare viharati ānandacetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“cattārome, bhikkhave, mahāpadese desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katame, bhikkhave, cattāro mahāpadesā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
imassa ca bhikkhuno duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
imassa ca bhikkhuno suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho.
Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca saṅghassa duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho.
Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni, vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca saṅghassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā.
Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tesañca therānaṁ duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā.
Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tesañca therānaṁ suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo.
Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte otaranti na vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca therassa duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo.
Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte otāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte otāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva otaranti vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa;
tassa ca therassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Ime kho, bhikkhave, cattāro mahāpadesā”ti.
Dasamaṁ.
Sañcetaniyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Cetanā vibhatti koṭṭhiko,
Ānando upavāṇapañcamaṁ;
Āyācana rāhula jambālī,
Nibbānaṁ mahāpadesenāti.