TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sumanà, con gái vua bạch Thế Tôn:
TTC 2—Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
TTC 3Người có bố thí, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không bố thí trên năm phương diện này.
TTC 4—Bạch Thế Tôn, nếu họ từ đây mạng chung, trở lại trạng thái này, khi họ trở lại làm người, bạch Thế Tôn, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
TTC 5Người có bố thí, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện: Về nhân thọ mạng, về nhân sắc, về nhân lạc, về nhân danh xưng, về nhân tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện này
TTC 6—Bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Giữa hai người xuất gia ấy, bạch Thế Tôn có thể có những đặc thù gì, những sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
TTC 7Người có bố thí, khi được xuất gia, vượt qua vị xuất gia không có bố thí trên năm phương diện: Thường hay được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận đồ ăn khất thực, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận sàng tọa, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận dược phẩm trị bệnh, ít khi không được yêu cầu. Vị ấy sống với những vị đồng Phạm hạnh nào, các vị này đối với vị ấy, xử sự với nhiều thân nghiệp khả ái, với ít thân nghiệp không khả ái, với nhiều khẩu nghiệp khả ái, với ít khẩu nghiệp không khả ái, với nhiều ý nghiệp khả ái, với ít ý nghiệp không khả ái, giúp đỡ với nhiều giúp đỡ khả ái, với ít giúp đỡ không khả ái. Này Sumanà, người có bố thí khi được xuất gia, vượt qua người không có bố thí trên năm phương diện này.
TTC 8—Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều chứng quả A-la-hán. Với hai vị chứng đạt A-la-hán ấy, bạch Thế Tôn có sự đặc thù nào, có sự sai khác nào?
TTC 9—Ở đây, này Sumanà, Ta nói không có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải thoát.
TTC 10—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Xa cho đến như vậy là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để làm cho các công đức. Vì rằng chúng là những giúp đỡ, những công đức cho chư Thiên, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho loài Người, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho các người xuất gia.
—Sự việc là như vậy, này Sumanà, là vừa đủ, này Sumanà, để bố thí, là vừa đủ để làm các công đức. Chúng là những giúp ích, những công đức cho chư Thiên. Chúng là những giúp ích, những công đức cho loài Người. Chúng là những giúp ích, những công đức cho những người xuất gia.
TTC 11Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Như mặt trăng không uế,
Ði giữa hư không giới,
Với ánh sáng bừng chói,
Giữa quần sao ở đời.
Cũng vậy, người đủ giới,
Hạng người có lòng tin,
Với bố thí, bừng chói,
Giữa xan tham ở đời.
Như mây mưa sấm sét,
Vòng hoa chóp trăm đầu,
Tràn đầy cả thung lũng,
Lan tràn cả đất bằng.
Cũng vậy, đầy tri kiến,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Bậc trí vượt xan tham,
Trên cả năm phương diện,
Thọ mạng và danh xưng,
Dung sắc và an lạc,
Với tài sản sung mãn,
Chết hưởng hỷ lạc thiên.
Ekaṁ samayaṁ …pe… anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sumanā rājakumārī pañcahi rathasatehi pañcahi rājakumārisatehi parivutā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho sumanā rājakumārī bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhassu, bhante, bhagavato dve sāvakā samasaddhā samasīlā samapaññā—
eko dāyako, eko adāyako.
Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyuṁ.
Devabhūtānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca:
“yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ devabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena.
Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ devabhūto samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti”.
“Sace pana te, bhante, tato cutā itthattaṁ āgacchanti, manussabhūtānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca:
“yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ manussabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
mānusakena āyunā, mānusakena vaṇṇena, mānusakena sukhena, mānusakena yasena, mānusakena ādhipateyyena.
Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ manussabhūto samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti”.
“Sace pana te, bhante, ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, pabbajitānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca:
“yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ pabbajito samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
yācitova bahulaṁ cīvaraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ senāsanaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito.
Yehi kho pana sabrahmacārīhi saddhiṁ viharati tyassa manāpeneva bahulaṁ kāyakammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpeneva bahulaṁ vacīkammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpeneva bahulaṁ manokammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpaṁyeva bahulaṁ upahāraṁ upaharanti appaṁ amanāpaṁ.
Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ pabbajito samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhātī”ti.
“Sace pana te, bhante, ubho arahattaṁ pāpuṇanti, arahattappattānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Ettha kho panesāhaṁ, sumane, na kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi, yadidaṁ vimuttiyā vimuttin”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāvañcidaṁ, bhante, alameva dānāni dātuṁ alaṁ puññāni kātuṁ;
yatra hi nāma devabhūtassāpi upakārāni puññāni, manussabhūtassāpi upakārāni puññāni, pabbajitassāpi upakārāni puññānī”ti.
“Evametaṁ, sumane.
Alañhi, sumane, dānāni dātuṁ alaṁ puññāni kātuṁ.
Devabhūtassāpi upakārāni puññāni, manussabhūtassāpi upakārāni puññāni, pabbajitassāpi upakārāni puññānī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Yathāpi cando vimalo,
gacchaṁ ākāsadhātuyā;
Sabbe tārāgaṇe loke,
ābhāya atirocati.
Tatheva sīlasampanno,
saddho purisapuggalo;
Sabbe maccharino loke,
cāgena atirocati.
Yathāpi megho thanayaṁ,
vijjumālī satakkaku;
Thalaṁ ninnañca pūreti,
abhivassaṁ vasundharaṁ.
Evaṁ dassanasampanno,
sammāsambuddhasāvako;
Macchariṁ adhigaṇhāti,
pañcaṭhānehi paṇḍito.
Āyunā yasasā ceva,
vaṇṇena ca sukhena ca;
Sa ve bhogaparibyūḷho,
pecca sagge pamodatī”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park. Then Princess Sumanā, accompanied by five hundred chariots and five hundred court girls, approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. Princess Sumanā then said to the Blessed One:
SC 2“Here, Bhante, there might be two disciples of the Blessed One equal in faith, virtuous behavior, and wisdom, but one is generous while the other is not. With the breakup of the body, an.iii.33 after death, they would both be reborn in a good destination, in a heavenly world. When they have become devas, would there be any distinction or difference between them?”
SC 3“There would be, Sumanā,” the Blessed One said. “The generous one, having become a deva, would surpass the other in five ways: in celestial life span, celestial beauty, celestial happiness, celestial glory, and celestial authority. The generous one, having become a deva, would surpass the other in these five ways.”
SC 4“But, Bhante, if these two pass away from there and again become human beings, would there still be some distinction or difference between them?”
SC 5“There would be, Sumanā,” the Blessed One said. “When they again become human beings, the generous one would surpass the other in five ways: in human life span, human beauty, human happiness, human fame, and human authority. When they again become human beings, the generous one would surpass the other in these five ways.”
SC 6“But, Bhante, if these two should go forth from the household life into homelessness, would there still be some distinction or difference between them?”
SC 7“There would be, Sumanā,” the Blessed One said. “The generous one, having gone forth, would surpass the other in five ways. (1) He would usually use a robe that has been specifically offered to him, seldom one that had not been specifically offered to him. (2) He would usually eat almsfood that has been specifically offered to him, seldom almsfood that had not been specifically offered to him. (3) He would usually use a lodging that had been specifically offered to him, seldom one that had not been specifically offered to him. (4) He would usually use medicines and provisions for the sick that had been specifically offered to him, seldom those that had not been specifically offered to him. (5) His fellow monastics, those with whom he dwells, would usually behave toward him in agreeable ways by bodily, verbal, and mental action, seldom in disagreeable ways. They would usually present him what is agreeable, seldom an.iii.34 what is disagreeable. The generous one, having gone forth, would surpass the other in these five ways.”
SC 8“But, Bhante, if both attain arahantship, would there still be some distinction or difference between them after they have attained arahantship?”
SC 9“In this case, Sumanā, I declare, there would be no difference between the liberation of one and the liberation of the other.”
SC 10“It’s astounding and amazing, Bhante! Truly, one has good reason to give alms and do meritorious deeds, since they will be helpful if one becomes a deva, again becomes a human being, or goes forth.”
SC 11“So it is, Sumanā! So it is, Sumanā! Truly, one has good reason to give alms and do meritorious deeds, since they will be helpful if one becomes a deva, again becomes a human being, or goes forth.”
SC 12This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 13“As the stainless moon
moving through the sphere of space
outshines with its radiance
all the stars in the world,
so one accomplished in virtuous behavior,
a person endowed with faith,
outshines by generosity
all the misers in the world.
SC 14“As the hundred-peaked rain cloud,
thundering, wreathed in lightning,
pours down rain upon the earth,
inundating the plains and lowlands,
so the Perfectly Enlightened One’s disciple,
the wise one accomplished in vision,
surpasses the miserly person
in five specific respects:
life span and glory,
beauty and happiness.
Possessed of wealth, after death
he rejoices in heaven.” an.iii.35
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sumanà, con gái vua bạch Thế Tôn:
TTC 2—Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
TTC 3Người có bố thí, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không bố thí trên năm phương diện này.
TTC 4—Bạch Thế Tôn, nếu họ từ đây mạng chung, trở lại trạng thái này, khi họ trở lại làm người, bạch Thế Tôn, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
TTC 5Người có bố thí, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện: Về nhân thọ mạng, về nhân sắc, về nhân lạc, về nhân danh xưng, về nhân tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện này
TTC 6—Bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Giữa hai người xuất gia ấy, bạch Thế Tôn có thể có những đặc thù gì, những sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
TTC 7Người có bố thí, khi được xuất gia, vượt qua vị xuất gia không có bố thí trên năm phương diện: Thường hay được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận đồ ăn khất thực, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận sàng tọa, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận dược phẩm trị bệnh, ít khi không được yêu cầu. Vị ấy sống với những vị đồng Phạm hạnh nào, các vị này đối với vị ấy, xử sự với nhiều thân nghiệp khả ái, với ít thân nghiệp không khả ái, với nhiều khẩu nghiệp khả ái, với ít khẩu nghiệp không khả ái, với nhiều ý nghiệp khả ái, với ít ý nghiệp không khả ái, giúp đỡ với nhiều giúp đỡ khả ái, với ít giúp đỡ không khả ái. Này Sumanà, người có bố thí khi được xuất gia, vượt qua người không có bố thí trên năm phương diện này.
TTC 8—Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều chứng quả A-la-hán. Với hai vị chứng đạt A-la-hán ấy, bạch Thế Tôn có sự đặc thù nào, có sự sai khác nào?
TTC 9—Ở đây, này Sumanà, Ta nói không có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải thoát.
TTC 10—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Xa cho đến như vậy là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để làm cho các công đức. Vì rằng chúng là những giúp đỡ, những công đức cho chư Thiên, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho loài Người, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho các người xuất gia.
—Sự việc là như vậy, này Sumanà, là vừa đủ, này Sumanà, để bố thí, là vừa đủ để làm các công đức. Chúng là những giúp ích, những công đức cho chư Thiên. Chúng là những giúp ích, những công đức cho loài Người. Chúng là những giúp ích, những công đức cho những người xuất gia.
TTC 11Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Như mặt trăng không uế,
Ði giữa hư không giới,
Với ánh sáng bừng chói,
Giữa quần sao ở đời.
Cũng vậy, người đủ giới,
Hạng người có lòng tin,
Với bố thí, bừng chói,
Giữa xan tham ở đời.
Như mây mưa sấm sét,
Vòng hoa chóp trăm đầu,
Tràn đầy cả thung lũng,
Lan tràn cả đất bằng.
Cũng vậy, đầy tri kiến,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Bậc trí vượt xan tham,
Trên cả năm phương diện,
Thọ mạng và danh xưng,
Dung sắc và an lạc,
Với tài sản sung mãn,
Chết hưởng hỷ lạc thiên.
Ekaṁ samayaṁ …pe… anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sumanā rājakumārī pañcahi rathasatehi pañcahi rājakumārisatehi parivutā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho sumanā rājakumārī bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhassu, bhante, bhagavato dve sāvakā samasaddhā samasīlā samapaññā—
eko dāyako, eko adāyako.
Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyuṁ.
Devabhūtānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca:
“yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ devabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena.
Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ devabhūto samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti”.
“Sace pana te, bhante, tato cutā itthattaṁ āgacchanti, manussabhūtānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca:
“yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ manussabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
mānusakena āyunā, mānusakena vaṇṇena, mānusakena sukhena, mānusakena yasena, mānusakena ādhipateyyena.
Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ manussabhūto samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti”.
“Sace pana te, bhante, ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, pabbajitānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca:
“yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ pabbajito samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—
yācitova bahulaṁ cīvaraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ senāsanaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito.
Yehi kho pana sabrahmacārīhi saddhiṁ viharati tyassa manāpeneva bahulaṁ kāyakammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpeneva bahulaṁ vacīkammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpeneva bahulaṁ manokammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpaṁyeva bahulaṁ upahāraṁ upaharanti appaṁ amanāpaṁ.
Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ pabbajito samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhātī”ti.
“Sace pana te, bhante, ubho arahattaṁ pāpuṇanti, arahattappattānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
“Ettha kho panesāhaṁ, sumane, na kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi, yadidaṁ vimuttiyā vimuttin”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāvañcidaṁ, bhante, alameva dānāni dātuṁ alaṁ puññāni kātuṁ;
yatra hi nāma devabhūtassāpi upakārāni puññāni, manussabhūtassāpi upakārāni puññāni, pabbajitassāpi upakārāni puññānī”ti.
“Evametaṁ, sumane.
Alañhi, sumane, dānāni dātuṁ alaṁ puññāni kātuṁ.
Devabhūtassāpi upakārāni puññāni, manussabhūtassāpi upakārāni puññāni, pabbajitassāpi upakārāni puññānī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Yathāpi cando vimalo,
gacchaṁ ākāsadhātuyā;
Sabbe tārāgaṇe loke,
ābhāya atirocati.
Tatheva sīlasampanno,
saddho purisapuggalo;
Sabbe maccharino loke,
cāgena atirocati.
Yathāpi megho thanayaṁ,
vijjumālī satakkaku;
Thalaṁ ninnañca pūreti,
abhivassaṁ vasundharaṁ.
Evaṁ dassanasampanno,
sammāsambuddhasāvako;
Macchariṁ adhigaṇhāti,
pañcaṭhānehi paṇḍito.
Āyunā yasasā ceva,
vaṇṇena ca sukhena ca;
Sa ve bhogaparibyūḷho,
pecca sagge pamodatī”ti.
Paṭhamaṁ.