TTC 1Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Này Tỷ-kheo, thế giới do tâm hướng dẫn. Thế giới do tâm được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của tâm được khởi lên.
TTC 2—Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác:
—Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Nhiều, này Tỷ-kheo, là pháp ta thuyết giảng: Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Này Tỷ-kheo, nếu ai hiểu nghĩa một bài kệ có bốn câu, hiểu pháp và thực hành pháp tùy pháp, người ấy được gọi là vị nghe nhiều, trì pháp.
TTC 3—Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo sau khi hoan hỷ … lại hỏi thêm câu nữa:
—Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ thể nhập?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo, hiền thiện … hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ thể nhập?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: “Ðây là khổ”, thể nhập và thấy ý ấy nghĩa với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là khổ tập”, thể nhập và thấy ý nghĩa ấy với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là khổ diệt”, thể nhập và thấy ý nghĩa ấy với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị có nghe với trí tuệ thể nhập.
TTC 4—Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác:
—Bậc Hiền trí, Ðại tuệ. Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc Hiền trí, Ðại tuệ. Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kena nu kho, bhante, loko nīyati, kena loko parikassati, kassa ca uppannassa vasaṁ gacchatī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu, ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, bhikkhu, pucchasi:
‘kena nu kho, bhante, loko nīyati, kena loko parikassati, kassa ca uppannassa vasaṁ gacchatī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Cittena kho, bhikkhu, loko nīyati, cittena parikassati, cittassa uppannassa vasaṁ gacchatī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“‘bahussuto dhammadharo, bahussuto dhammadharo’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, bahussuto dhammadharo hotī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, bhikkhu, pucchasi:
‘bahussuto dhammadharo, bahussuto dhammadharoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, bahussuto dhammadharo hotī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Bahū kho, bhikkhu, mayā dhammā desitā—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Catuppadāya cepi, bhikkhu, gāthāya atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti bahussuto dhammadharoti alaṁvacanāyā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“‘sutavā nibbedhikapañño, sutavā nibbedhikapañño’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sutavā nibbedhikapañño hotī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu, ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, bhikkhu, pucchasi:
‘sutavā nibbedhikapañño, sutavā nibbedhikapaññoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sutavā nibbedhikapañño hotī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Idha, bhikkhu, bhikkhuno ‘idaṁ dukkhan’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati;
‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati;
‘ayaṁ dukkhanirodho’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati;
‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati.
Evaṁ kho, bhikkhu, sutavā nibbedhikapañño hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“‘paṇḍito mahāpañño, paṇḍito mahāpañño’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, paṇḍito mahāpañño hotī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu, ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ bhikkhu pucchasi:
‘paṇḍito mahāpañño, paṇḍito mahāpaññoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, paṇḍito mahāpañño hotī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Idha, bhikkhu, paṇḍito mahāpañño nevattabyābādhāya ceteti na parabyābādhāya ceteti na ubhayabyābādhāya ceteti attahitaparahitaubhayahitasabbalokahitameva cintayamāno cinteti.
Evaṁ kho, bhikkhu, paṇḍito mahāpañño hotī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Then one of the mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, what leads the world on? What drags it around? What arises and takes control?”
“Good, good, mendicant!
Your approach and articulation are excellent, and it’s a good question.
For you asked:
‘What leads the world on? What drags it around? What arises and takes control?’”
“Yes, sir.”
“Mendicant, the mind leads the world on. The mind drags it around. When the mind arises, it takes control.”
Saying “Good, sir”, that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:
“Sir, they speak of ‘a learned memorizer of the teaching’.
How is a learned memorizer of the teaching defined?”
“Good, good, mendicant!
Your approach and articulation are excellent, and it’s a good question. …
I have taught many teachings:
statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
But if anyone understands the meaning and the text of even a four-line verse, and if they practice in line with that teaching, they’re qualified to be called a ‘learned memorizer of the teaching’.”
Saying “Good, sir”, that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:
“Sir, they speak of ‘a learned person with penetrating wisdom’.
How is a learned person with penetrating wisdom defined?”
“Good, good, mendicant!
Your approach and articulation are excellent, and it’s a good question. …
Take a mendicant who has heard: ‘This is suffering.’ They see what it means with penetrating wisdom.
They’ve heard: ‘This is the origin of suffering’ …
‘This is the cessation of suffering’ …
‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ They see what it means with penetrating wisdom.
That’s how an individual is learned, with penetrating wisdom.”
Saying “Good, sir”, that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:
“Sir, they speak of ‘an astute person with great wisdom’.
How is an astute person with great wisdom defined?”
“Good, good, mendicant!
Your approach and articulation are excellent, and it’s a good question. …
An astute person with great wisdom is one who has no intention to hurt themselves, or to hurt others, or to hurt both. When they think, they only think of the benefit for themselves, for others, for both, and for the whole world.
That’s how an individual is astute, with great wisdom.”
TTC 1Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bạch Thế Tôn, thế giới do cái gì hướng dẫn, thế giới do cái gì được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của cái gì được khởi lên?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Này Tỷ-kheo, thế giới do tâm hướng dẫn. Thế giới do tâm được diễn tiến, đi đến sự thuần phục của tâm được khởi lên.
TTC 2—Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác:
—Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc nghe nhiều, trì pháp. Bậc nghe nhiều, trì pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là một bậc nghe nhiều, trì pháp?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Nhiều, này Tỷ-kheo, là pháp ta thuyết giảng: Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Này Tỷ-kheo, nếu ai hiểu nghĩa một bài kệ có bốn câu, hiểu pháp và thực hành pháp tùy pháp, người ấy được gọi là vị nghe nhiều, trì pháp.
TTC 3—Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo sau khi hoan hỷ … lại hỏi thêm câu nữa:
—Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ thể nhập?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo, hiền thiện … hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc có nghe với trí tuệ thể nhập (quyết trạch), bậc có nghe với trí tuệ thể nhập, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến khi nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bậc có nghe với trí tuệ thể nhập?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: “Ðây là khổ”, thể nhập và thấy ý ấy nghĩa với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là khổ tập”, thể nhập và thấy ý nghĩa ấy với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là khổ diệt”, thể nhập và thấy ý nghĩa ấy với trí tuệ. Ðược nghe: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thể nhập và thấy ý nghĩa với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị có nghe với trí tuệ thể nhập.
TTC 4—Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn một câu khác:
—Bậc Hiền trí, Ðại tuệ. Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ?
—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Hiền thiện là con đường Thầy đặt vấn đề, hiền thiện là sự biện tài, hiền thiện là câu hỏi! Này Tỷ-kheo, có phải Thầy hỏi như sau: “Bậc Hiền trí, Ðại tuệ. Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào bạch Thế Tôn, được gọi là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kena nu kho, bhante, loko nīyati, kena loko parikassati, kassa ca uppannassa vasaṁ gacchatī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu, ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, bhikkhu, pucchasi:
‘kena nu kho, bhante, loko nīyati, kena loko parikassati, kassa ca uppannassa vasaṁ gacchatī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Cittena kho, bhikkhu, loko nīyati, cittena parikassati, cittassa uppannassa vasaṁ gacchatī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“‘bahussuto dhammadharo, bahussuto dhammadharo’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, bahussuto dhammadharo hotī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, bhikkhu, pucchasi:
‘bahussuto dhammadharo, bahussuto dhammadharoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, bahussuto dhammadharo hotī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Bahū kho, bhikkhu, mayā dhammā desitā—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Catuppadāya cepi, bhikkhu, gāthāya atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti bahussuto dhammadharoti alaṁvacanāyā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“‘sutavā nibbedhikapañño, sutavā nibbedhikapañño’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sutavā nibbedhikapañño hotī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu, ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, bhikkhu, pucchasi:
‘sutavā nibbedhikapañño, sutavā nibbedhikapaññoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sutavā nibbedhikapañño hotī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Idha, bhikkhu, bhikkhuno ‘idaṁ dukkhan’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati;
‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati;
‘ayaṁ dukkhanirodho’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati;
‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti sutaṁ hoti, paññāya cassa atthaṁ ativijjha passati.
Evaṁ kho, bhikkhu, sutavā nibbedhikapañño hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“‘paṇḍito mahāpañño, paṇḍito mahāpañño’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, paṇḍito mahāpañño hotī”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Bhaddako kho te, bhikkhu, ummaggo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ bhikkhu pucchasi:
‘paṇḍito mahāpañño, paṇḍito mahāpaññoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, paṇḍito mahāpañño hotī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Idha, bhikkhu, paṇḍito mahāpañño nevattabyābādhāya ceteti na parabyābādhāya ceteti na ubhayabyābādhāya ceteti attahitaparahitaubhayahitasabbalokahitameva cintayamāno cinteti.
Evaṁ kho, bhikkhu, paṇḍito mahāpañño hotī”ti.
Chaṭṭhaṁ.