TTC 1Như vậy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn đang bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, trong khóm rừng Icchànangala. Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala được nghe: “Tôn giả Gotama là Thích tử, xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangaka trong khóm rừng Icchànagala. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Sau khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch”. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy! “. Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangala, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, cao tiếng và lớn tiếng.
TTC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
—Này Nàgita, những ai đã cao tiếng và lớn tiếng như những người đánh cá đang giết hại cá?
—Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala đang đứng ở khu viên cổng ngoài, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta, Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.
—Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hột, và nước được chảy tùy theo chiều dốc; cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng dường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn!
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.
TTC 3Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo ngồi Thiền định tại trú xứ ở cuối làng. Này Nàgita, về vị ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Nay có người coi khu vườn hay người Sa-di phá phách vị Tỷ-kheo này, làm cho vị này xuất khỏi thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ với trú xứ của vị ấy.
TTC 4Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo đang ngồi ngủ ngục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ về vị ấy như sau: “Nay vị Tỷ-kheo này, sau khi đoạn trừ ngủ nghỉ và mệt nhọc, sẽ tác ý tưởng về rừng đạt được nhất tâm”. Do vậy, nầy Nàgita, ta hoan hỷ với trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 5Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng, ngồi không Thiền định trong rừng. Này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: “Nay Tỷ-kheo này sẽ Thiền định được tâm không Thiền định, hay sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định”. Do vậy, này Nàgita. Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 6Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng ngồi với tâm Thiền định ở rừng. này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: “Nay Tỷ-kheo này sẽ giải thoát, tâm chưa được giả thoát hay sẽ bảo vệ tâm sẽ được giải thoát”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 7Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở cuối làng, nhận được vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thích thú với các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, bỏ phế thiền tịnh, bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng, đi xuống làng, thị trấn, kinh đô để lo nuôi sống. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ về trú xứ cuối làng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 8Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng nhận được các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng chận đứng các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, không bỏ phế Thiền tịnh, không bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
Nhưng khi Ta đang bước đi trên con đường, trước mặt, Ta không thấy ai; sau lưng, Ta không thấy ai; trong khi ấy, Ta cảm thấy an ổn, này Nàgita, cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena icchānaṅgalaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Assosuṁ kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgalaṁ anuppatto icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno …pe… buddho bhagavā’ti.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ …pe… arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā tassā rattiyā accayena pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhaṁsu uccāsaddā mahāsaddā.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgito bhagavato upaṭṭhāko hoti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nāgitaṁ āmantesi:
“ke pana te, nāgita, uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ete, bhante, icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya bahidvārakoṭṭhake ṭhitā bhagavantaṁyeva uddissa bhikkhusaṅghañcā”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyyā”ti.
“Adhivāsetu dāni, bhante, bhagavā; adhivāsetu, sugato;
adhivāsanakālo dāni, bhante, bhagavato.
Yena yeneva dāni, bhante, bhagavā gamissati, tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Seyyathāpi, bhante, thullaphusitake deve vassante yathāninnaṁ udakāni pavattanti;
evamevaṁ kho, bhante, yena yeneva dāni bhagavā gamissati, tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhante, bhagavato sīlapaññāṇan”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyya.
Idhāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idānimaṁ āyasmantaṁ ārāmiko vā upaṭṭhahissati samaṇuddeso vā taṁ tamhā samādhimhā cāvessatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe pacalāyamānaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā imaṁ niddākilamathaṁ paṭivinodetvā araññasaññaṁyeva manasi karissati ekattan’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe asamāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā asamāhitaṁ vā cittaṁ samādahissati, samāhitaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā avimuttaṁ vā cittaṁ vimocessati, vimuttaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ nikāmayamāno riñcati paṭisallānaṁ riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni;
gāmanigamarājadhāniṁ osaritvā vāsaṁ kappeti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ paṭipaṇāmetvā na riñcati paṭisallānaṁ na riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Yasmāhaṁ, nāgita, samaye addhānamaggappaṭipanno na kañci passāmi purato vā pacchato vā, phāsu me, nāgita, tasmiṁ samaye hoti antamaso uccārapassāvakammāyā”ti.
Dvādasamaṁ.
Devatāvaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Sekhā dve aparihāni,
Moggallāna vijjābhāgiyā;
Vivādadānattakārī nidānaṁ,
Kimiladārukkhandhena nāgitoti.
I have heard that on one occasion the Blessed One, on a wandering tour among the Kosalans with a large community of monks, arrived at a Kosalan brahman village named Icchanangala. There he stayed in the Icchanangala forest grove.
The brahman householders of Icchanangala heard it said, “Gotama the contemplative—the son of the Sakyans, having gone forth from the Sakyan clan—on a wandering tour among the Kosalans with a large community of monks—has arrived at Icchanangala and is staying in the Icchanangala forest grove. And of that Master Gotama this fine reputation has spread: ‘He is indeed a Blessed One, worthy, & rightly self-awakened, consummate in knowledge & conduct, well-gone, a knower of the cosmos, an unexcelled trainer of those persons ready to be tamed, teacher of human & divine beings, awakened, blessed. He has made known—having realized it through direct knowledge—this world with its devas, maras, & brahmas, its generations with their contemplatives & brahmans, their rulers & common people; has explained the Dhamma admirable in the beginning, admirable in the middle, admirable in the end; has expounded the holy life both in its particulars & in its essence, entirely perfect, surpassingly pure. It is good to see such a worthy one.’”
So the brahman householders of Icchanangala, when the night was gone, taking many staple & non-staple foods, went to the gate house of the Icchanangala forest grove. On arrival they stood there making a loud racket, a great racket.
Now at that time Ven. Nagita was the Blessed One’s attendant. So the Blessed One addressed Ven. Nagita: “Nagita, what is that loud racket, that great racket, like fishermen with a catch of fish?”
“Lord, those are the brahman householders of Icchanangala standing at the gate house to the Icchanangala forest grove, having brought many staple & non-staple foods for the sake of the Blessed One & the community of monks.”
“May I have nothing to do with honor, Nagita, and honor nothing to do with me. Whoever cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening, let him consent to this slimy-excrement-pleasure, this torpor-pleasure, this pleasure of gains, offerings, & fame.”
“Lord, let the Blessed One acquiesce [to their offerings] now! Let the One Well-gone acquiesce now! Now is the time for the Blessed One’s acquiescence, lord! Now is the time for the Blessed One’s acquiescence, lord! Wherever the Blessed One will go now, the brahmans of the towns & countryside will be so inclined. Just as when the rain-devas send rain in fat drops, the waters flow with the incline, in the same way, wherever the Blessed One will go now, the brahmans of the towns & countryside will be so inclined. Why is that? Because such is the Blessed One’s virtue & discernment.”
“May I have nothing to do with honor, Nagita, and honor nothing to do with me. Whoever cannot obtain at will—without difficulty, without trouble—as I do, the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of self-awakening, let him consent to this slimy-excrement-pleasure, this torpor-pleasure, this pleasure of gains, offerings, & fame.
“Nagita, there is the case where I see a monk sitting in concentration in a village dwelling. The thought occurs to me, ‘Soon a monastery attendant will disturb this venerable one in some way, or a novice will, and rouse him from his concentration.’ And so I am not pleased with that monk’s village-dwelling.
“But then there is the case where I see a monk sitting, nodding, in the wilderness. The thought occurs to me, ‘Soon this venerable one will dispel his drowsiness & fatigue and attend to the wilderness-perception, [his mind] unified.’ And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
“Then there is the case where I see a wilderness monk sitting unconcentrated in the wilderness. The thought occurs to me, ‘Soon this venerable one will center his unconcentrated mind, or protect his concentrated mind.’ And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
“Then there is the case where I see a wilderness monk sitting in concentration in the wilderness. The thought occurs to me, ‘Soon this venerable one will release his unreleased mind, or protect his released mind.’ And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
“Then there is the case where I see a village-dwelling monk who receives robes, alms food, shelter, & medicinal requisites for curing the sick. Receiving, as he likes, those gains, offerings, & fame, he neglects seclusion, he neglects isolated forest & wilderness dwellings. He makes his living by visiting villages, towns, & cities. And so I am not pleased with that monk’s village-dwelling.
“Then there is the case where I see a wilderness monk who receives robes, alms food, shelter, & medicinal requisites for curing the sick. Fending off those gains, offerings, & fame, he doesn’t neglect seclusion, doesn’t neglect isolated forest & wilderness dwellings. And so I am pleased with that monk’s wilderness-dwelling.
“But when I am traveling along a road and see no one in front or behind me, at that time I have my ease, even when urinating & defecating.”
TTC 1Như vậy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn đang bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, trong khóm rừng Icchànangala. Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala được nghe: “Tôn giả Gotama là Thích tử, xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangaka trong khóm rừng Icchànagala. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Sau khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch”. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy! “. Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangala, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, cao tiếng và lớn tiếng.
TTC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
—Này Nàgita, những ai đã cao tiếng và lớn tiếng như những người đánh cá đang giết hại cá?
—Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala đang đứng ở khu viên cổng ngoài, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta, Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.
—Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hột, và nước được chảy tùy theo chiều dốc; cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng dường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn!
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.
TTC 3Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo ngồi Thiền định tại trú xứ ở cuối làng. Này Nàgita, về vị ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Nay có người coi khu vườn hay người Sa-di phá phách vị Tỷ-kheo này, làm cho vị này xuất khỏi thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ với trú xứ của vị ấy.
TTC 4Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo đang ngồi ngủ ngục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ về vị ấy như sau: “Nay vị Tỷ-kheo này, sau khi đoạn trừ ngủ nghỉ và mệt nhọc, sẽ tác ý tưởng về rừng đạt được nhất tâm”. Do vậy, nầy Nàgita, ta hoan hỷ với trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 5Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng, ngồi không Thiền định trong rừng. Này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: “Nay Tỷ-kheo này sẽ Thiền định được tâm không Thiền định, hay sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định”. Do vậy, này Nàgita. Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 6Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng ngồi với tâm Thiền định ở rừng. này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: “Nay Tỷ-kheo này sẽ giải thoát, tâm chưa được giả thoát hay sẽ bảo vệ tâm sẽ được giải thoát”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 7Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở cuối làng, nhận được vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thích thú với các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, bỏ phế thiền tịnh, bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng, đi xuống làng, thị trấn, kinh đô để lo nuôi sống. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ về trú xứ cuối làng của Tỷ-kheo ấy.
TTC 8Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng nhận được các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng chận đứng các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, không bỏ phế Thiền tịnh, không bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
Nhưng khi Ta đang bước đi trên con đường, trước mặt, Ta không thấy ai; sau lưng, Ta không thấy ai; trong khi ấy, Ta cảm thấy an ổn, này Nàgita, cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena icchānaṅgalaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Assosuṁ kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgalaṁ anuppatto icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno …pe… buddho bhagavā’ti.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ …pe… arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā tassā rattiyā accayena pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhaṁsu uccāsaddā mahāsaddā.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgito bhagavato upaṭṭhāko hoti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nāgitaṁ āmantesi:
“ke pana te, nāgita, uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ete, bhante, icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya bahidvārakoṭṭhake ṭhitā bhagavantaṁyeva uddissa bhikkhusaṅghañcā”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyyā”ti.
“Adhivāsetu dāni, bhante, bhagavā; adhivāsetu, sugato;
adhivāsanakālo dāni, bhante, bhagavato.
Yena yeneva dāni, bhante, bhagavā gamissati, tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Seyyathāpi, bhante, thullaphusitake deve vassante yathāninnaṁ udakāni pavattanti;
evamevaṁ kho, bhante, yena yeneva dāni bhagavā gamissati, tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhante, bhagavato sīlapaññāṇan”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī,
so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyya.
Idhāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idānimaṁ āyasmantaṁ ārāmiko vā upaṭṭhahissati samaṇuddeso vā taṁ tamhā samādhimhā cāvessatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe pacalāyamānaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā imaṁ niddākilamathaṁ paṭivinodetvā araññasaññaṁyeva manasi karissati ekattan’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe asamāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā asamāhitaṁ vā cittaṁ samādahissati, samāhitaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe samāhitaṁ nisinnaṁ.
Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti:
‘idāni ayamāyasmā avimuttaṁ vā cittaṁ vimocessati, vimuttaṁ vā cittaṁ anurakkhissatī’ti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ nikāmayamāno riñcati paṭisallānaṁ riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni;
gāmanigamarājadhāniṁ osaritvā vāsaṁ kappeti.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
So taṁ lābhasakkārasilokaṁ paṭipaṇāmetvā na riñcati paṭisallānaṁ na riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni.
Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Yasmāhaṁ, nāgita, samaye addhānamaggappaṭipanno na kañci passāmi purato vā pacchato vā, phāsu me, nāgita, tasmiṁ samaye hoti antamaso uccārapassāvakammāyā”ti.
Dvādasamaṁ.
Devatāvaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Sekhā dve aparihāni,
Moggallāna vijjābhāgiyā;
Vivādadānattakārī nidānaṁ,
Kimiladārukkhandhena nāgitoti.