TTC 1—Phần lớn, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình tìm được lạc thú trong các dục. Với thiện nam tử, này các Tỷ-kheo, đã bỏ một bên lưỡi liềm và đòn gánh, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy vừa đủ để được gọi: “Vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia”. Vì cớ sao?
TTC 2Các dục, này các Tỷ-kheo, được tìm thấy với tuổi trẻ, các dục này hay các dục khác. Và này các Tỷ-kheo, các dục hạ liệt, các dục trung đẳng, và các dục tối thắng, tất cả dục đều được chấp nhận là các dục.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, có đứa con nít, trẻ nhỏ, ngây thơ đang nằm ngửa, do người vú vô ý, đứa nhỏ cầm một cây que hay hòn sạn cho vào miệng. Người vú hầu ấy phải mau chóng tác ý. Sau khi mau chóng tác ý, phải mau chóng móc cho ra. Nếu không có thể mau chóng móc ra được, thời với tay trái nắm đầu nó, với tay mặt, lấy ngón tay làm như cái móc, móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, làm như vậy, có hại cho đứa trẻ. Ta nói rằng không phải không có hại. Như vậy, này các Tỷ kheo, người vú hầu phải làm như vậy vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn (đứa trẻ). Nhưng này các Tỷ-kheo, khi đức trẻ ấy đã lớn lên, và có đủ trí khôn, người vú hầu ấy không săn sóc nó nữa, nghĩ rằng: “Nay đứa trẻ đã biết tự bảo vệ mình, không phóng dật nữa”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào vị Tỷ-kheo chưa gây được lòng tin đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng hổ thẹn đối với các bất thiện pháp, chưa gây được lòng sợ hãi đối với các bất thiện pháp, chưa gây được tinh tấn đối với các thiện pháp; chưa gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta cần phải phòng hộ Tỷ-kheo ấy. Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gây được lòng tin đối với các thiện pháp, gây được lòng hổ thẹn đối với các bất thiện pháp, gây được lòng sợ hãi đối với các bất thiện pháp, gây được lòng tinh tấn đối với các thiện pháp; gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không còn săn sóc Tỷ-kheo ấy, nghĩ rằng: “Nay Tỷ-kheo ấy đã biết tự bảo vệ mình, không còn phóng dật nữa”.
“Yebhuyyena, bhikkhave, sattā kāmesu laḷitā.
Asitabyābhaṅgiṁ, bhikkhave, kulaputto ohāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, ‘saddhāpabbajito kulaputto’ti alaṁvacanāya.
Taṁ kissa hetu?
Labbhā, bhikkhave, yobbanena kāmā te ca kho yādisā vā tādisā vā.
Ye ca, bhikkhave, hīnā kāmā ye ca majjhimā kāmā ye ca paṇītā kāmā, sabbe kāmā ‘kāmā’tveva saṅkhaṁ gacchanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, daharo kumāro mando uttānaseyyako dhātiyā pamādamanvāya kaṭṭhaṁ vā kaṭhalaṁ vā mukhe āhareyya.
Tamenaṁ dhāti sīghaṁ sīghaṁ manasi kareyya;
sīghaṁ sīghaṁ manasi karitvā sīghaṁ sīghaṁ āhareyya.
No ce sakkuṇeyya sīghaṁ sīghaṁ āharituṁ, vāmena hatthena sīsaṁ pariggahetvā dakkhiṇena hatthena vaṅkaṅguliṁ karitvā salohitampi āhareyya.
Taṁ kissa hetu?
‘Atthesā, bhikkhave, kumārassa vihesā;
nesā natthī’ti vadāmi.
Karaṇīyañca kho etaṁ, bhikkhave, dhātiyā atthakāmāya hitesiniyā anukampikāya, anukampaṁ upādāya.
Yato ca kho, bhikkhave, so kumāro vuddho hoti alaṁpañño, anapekkhā dāni, bhikkhave, dhāti tasmiṁ kumāre hoti:
‘attagutto dāni kumāro nālaṁ pamādāyā’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yāvakīvañca bhikkhuno saddhāya akataṁ hoti kusalesu dhammesu, hiriyā akataṁ hoti kusalesu dhammesu, ottappena akataṁ hoti kusalesu dhammesu, vīriyena akataṁ hoti kusalesu dhammesu, paññāya akataṁ hoti kusalesu dhammesu, anurakkhitabbo tāva me so, bhikkhave, bhikkhu hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, bhikkhuno saddhāya kataṁ hoti kusalesu dhammesu, hiriyā kataṁ hoti kusalesu dhammesu, ottappena kataṁ hoti kusalesu dhammesu, vīriyena kataṁ hoti kusalesu dhammesu, paññāya kataṁ hoti kusalesu dhammesu, anapekkho dānāhaṁ, bhikkhave, tasmiṁ bhikkhusmiṁ homi:
‘attagutto dāni bhikkhu nālaṁ pamādāyā’”ti.
Sattamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, beings for the most part are captivated by sensual pleasures. When a clansman has forsaken the sickle and carrying-pole and gone forth from the household life into homelessness, he can be described as a clansman who has gone forth out of faith. For what reason? Sensual pleasures, whether of this or that kind, can be obtained by a youth. Inferior sensual pleasures, middling sensual pleasures, and superior sensual pleasures are all reckoned simply as sensual pleasures. an.iii.6
SC 2“Suppose a young infant boy, ignorant, lying on his back, were to put a stick or pebble in his mouth because of his nurse’s heedlessness. His nurse would quickly attend to him and try to take it out. If she could not quickly take it out, she would brace the boy’s head with her left hand and, hooking a finger of her right hand, she would take it out even if she had to draw blood. For what reason? There would be some distress for the boy—this I don’t deny—but the nurse has to do so for his good and welfare, out of compassion for him. However, when the boy has grown up and has enough sense, the nurse would be unconcerned about him, thinking: ‘The boy can now look after himself. He won’t be heedless.’
SC 3“So too, so long as a bhikkhu is still not accomplished in faith in cultivating wholesome qualities, in a sense of shame in cultivating wholesome qualities, in moral dread in cultivating wholesome qualities, in energy in cultivating wholesome qualities, and in wisdom in cultivating wholesome qualities, I must still look after him. But when that bhikkhu is accomplished in faith in cultivating wholesome qualities … accomplished in wisdom in cultivating wholesome qualities, then I am unconcerned about him, thinking: ‘The bhikkhu can now look after himself. He won’t be heedless.’”
TTC 1—Phần lớn, này các Tỷ-kheo, các loại hữu tình tìm được lạc thú trong các dục. Với thiện nam tử, này các Tỷ-kheo, đã bỏ một bên lưỡi liềm và đòn gánh, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy vừa đủ để được gọi: “Vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia”. Vì cớ sao?
TTC 2Các dục, này các Tỷ-kheo, được tìm thấy với tuổi trẻ, các dục này hay các dục khác. Và này các Tỷ-kheo, các dục hạ liệt, các dục trung đẳng, và các dục tối thắng, tất cả dục đều được chấp nhận là các dục.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, có đứa con nít, trẻ nhỏ, ngây thơ đang nằm ngửa, do người vú vô ý, đứa nhỏ cầm một cây que hay hòn sạn cho vào miệng. Người vú hầu ấy phải mau chóng tác ý. Sau khi mau chóng tác ý, phải mau chóng móc cho ra. Nếu không có thể mau chóng móc ra được, thời với tay trái nắm đầu nó, với tay mặt, lấy ngón tay làm như cái móc, móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, làm như vậy, có hại cho đứa trẻ. Ta nói rằng không phải không có hại. Như vậy, này các Tỷ kheo, người vú hầu phải làm như vậy vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn (đứa trẻ). Nhưng này các Tỷ-kheo, khi đức trẻ ấy đã lớn lên, và có đủ trí khôn, người vú hầu ấy không săn sóc nó nữa, nghĩ rằng: “Nay đứa trẻ đã biết tự bảo vệ mình, không phóng dật nữa”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào vị Tỷ-kheo chưa gây được lòng tin đối với các thiện pháp, chưa gây được lòng hổ thẹn đối với các bất thiện pháp, chưa gây được lòng sợ hãi đối với các bất thiện pháp, chưa gây được tinh tấn đối với các thiện pháp; chưa gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta cần phải phòng hộ Tỷ-kheo ấy. Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gây được lòng tin đối với các thiện pháp, gây được lòng hổ thẹn đối với các bất thiện pháp, gây được lòng sợ hãi đối với các bất thiện pháp, gây được lòng tinh tấn đối với các thiện pháp; gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không còn săn sóc Tỷ-kheo ấy, nghĩ rằng: “Nay Tỷ-kheo ấy đã biết tự bảo vệ mình, không còn phóng dật nữa”.
“Yebhuyyena, bhikkhave, sattā kāmesu laḷitā.
Asitabyābhaṅgiṁ, bhikkhave, kulaputto ohāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, ‘saddhāpabbajito kulaputto’ti alaṁvacanāya.
Taṁ kissa hetu?
Labbhā, bhikkhave, yobbanena kāmā te ca kho yādisā vā tādisā vā.
Ye ca, bhikkhave, hīnā kāmā ye ca majjhimā kāmā ye ca paṇītā kāmā, sabbe kāmā ‘kāmā’tveva saṅkhaṁ gacchanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, daharo kumāro mando uttānaseyyako dhātiyā pamādamanvāya kaṭṭhaṁ vā kaṭhalaṁ vā mukhe āhareyya.
Tamenaṁ dhāti sīghaṁ sīghaṁ manasi kareyya;
sīghaṁ sīghaṁ manasi karitvā sīghaṁ sīghaṁ āhareyya.
No ce sakkuṇeyya sīghaṁ sīghaṁ āharituṁ, vāmena hatthena sīsaṁ pariggahetvā dakkhiṇena hatthena vaṅkaṅguliṁ karitvā salohitampi āhareyya.
Taṁ kissa hetu?
‘Atthesā, bhikkhave, kumārassa vihesā;
nesā natthī’ti vadāmi.
Karaṇīyañca kho etaṁ, bhikkhave, dhātiyā atthakāmāya hitesiniyā anukampikāya, anukampaṁ upādāya.
Yato ca kho, bhikkhave, so kumāro vuddho hoti alaṁpañño, anapekkhā dāni, bhikkhave, dhāti tasmiṁ kumāre hoti:
‘attagutto dāni kumāro nālaṁ pamādāyā’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yāvakīvañca bhikkhuno saddhāya akataṁ hoti kusalesu dhammesu, hiriyā akataṁ hoti kusalesu dhammesu, ottappena akataṁ hoti kusalesu dhammesu, vīriyena akataṁ hoti kusalesu dhammesu, paññāya akataṁ hoti kusalesu dhammesu, anurakkhitabbo tāva me so, bhikkhave, bhikkhu hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, bhikkhuno saddhāya kataṁ hoti kusalesu dhammesu, hiriyā kataṁ hoti kusalesu dhammesu, ottappena kataṁ hoti kusalesu dhammesu, vīriyena kataṁ hoti kusalesu dhammesu, paññāya kataṁ hoti kusalesu dhammesu, anapekkho dānāhaṁ, bhikkhave, tasmiṁ bhikkhusmiṁ homi:
‘attagutto dāni bhikkhu nālaṁ pamādāyā’”ti.
Sattamaṁ.