TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có hai loại bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Này các Tỷ-kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm, tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba … được bốn … được năm … được mười … được hai mươi … được ba mươi … được bốn mươi … tự nhận mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình là không thân bệnh được một trăm năm. Các chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, có bốn loại bệnh này cho người xuất gia. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Người ấy vì nhiều dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các vật dụmg như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị ấy sau khi tính toán, đi đến các gia đình; sau khi tính toán, ngồi xuống; sau khi tính toán, thuyết pháp; sau khi tính toán, ngưng nín tiểu tiện, đại tiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bốn chứng bệnh của người xuất gia.
TTC 3Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ta sẽ không có dục lớn, bực bội tức tối, tự bằng lòng với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ta sẽ không khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không đáng được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ không nỗ lực, không cố gắng, không tinh tấn để được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận. Ta sẽ chịu đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt mạng sống”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
“Dveme, bhikkhave, rogā.
Katame dve?
Kāyiko ca rogo cetasiko ca rogo.
Dissanti, bhikkhave, sattā kāyikena rogena ekampi vassaṁ ārogyaṁ paṭijānamānā, dvepi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, tīṇipi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, cattāripi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, pañcapi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, dasapi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, vīsatipi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, tiṁsampi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, cattārīsampi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, paññāsampi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, vassasatampi, bhiyyopi ārogyaṁ paṭijānamānā.
Te, bhikkhave, sattā sudullabhā lokasmiṁ ye cetasikena rogena muhuttampi ārogyaṁ paṭijānanti, aññatra khīṇāsavehi.
Cattārome, bhikkhave, pabbajitassa rogā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu mahiccho hoti vighātavā asantuṭṭho itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
So mahiccho samāno vighātavā asantuṭṭho itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena pāpikaṁ icchaṁ paṇidahati anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya.
So uṭṭhahati ghaṭati vāyamati anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya.
So saṅkhāya kulāni upasaṅkamati, saṅkhāya nisīdati, saṅkhāya dhammaṁ bhāsati, saṅkhāya uccārapassāvaṁ sandhāreti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro pabbajitassa rogā.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘na mahicchā bhavissāma vighātavanto asantuṭṭhā itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena, na pāpikaṁ icchaṁ paṇidahissāma anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya, na uṭṭhahissāma na ghaṭessāma na vāyamissāma anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya, khamā bhavissāma sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātikā bhavissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, there are two kinds of illness.
What two?
Mental and physical.
Some sentient beings are seen who can claim to be free of physical illness for a year, or two, or three years … even up to a hundred years or more.
But it’s very hard to find any sentient beings in the world who can claim to be free of mental illness even for an hour, apart from those who have ended the defilements.
There are four kinds of illness for those gone forth.
What four?
To start with, a mendicant has many wishes, is frustrated, and is not content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
Because of this, they focus their corrupt wishes on status, and on getting material things, honor, and popularity.
They try hard, strive, and make an effort to get these things.
They have an ulterior motive when they visit families. They have an ulterior motive when they sit down, when they speak on Dhamma, and even when they hold it in when they need to go to the toilet.
These are the four kinds of illness for those gone forth.
So you should train like this:
‘We will not have many wishes or be frustrated. We will be content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. We won’t focus our corrupt wishes on status, and on getting material things, honor, and popularity. We won’t try hard, strive, and make an effort to get these things. We will endure cold, heat, hunger, and thirst. We will endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. We will endure rude and unwelcome criticism. We will put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening.’
That’s how you should train.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có hai loại bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Này các Tỷ-kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm, tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba … được bốn … được năm … được mười … được hai mươi … được ba mươi … được bốn mươi … tự nhận mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình là không thân bệnh được một trăm năm. Các chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, có bốn loại bệnh này cho người xuất gia. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Người ấy vì nhiều dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các vật dụmg như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị ấy sau khi tính toán, đi đến các gia đình; sau khi tính toán, ngồi xuống; sau khi tính toán, thuyết pháp; sau khi tính toán, ngưng nín tiểu tiện, đại tiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bốn chứng bệnh của người xuất gia.
TTC 3Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ta sẽ không có dục lớn, bực bội tức tối, tự bằng lòng với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ta sẽ không khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không đáng được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ không nỗ lực, không cố gắng, không tinh tấn để được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận. Ta sẽ chịu đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt mạng sống”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
“Dveme, bhikkhave, rogā.
Katame dve?
Kāyiko ca rogo cetasiko ca rogo.
Dissanti, bhikkhave, sattā kāyikena rogena ekampi vassaṁ ārogyaṁ paṭijānamānā, dvepi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, tīṇipi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, cattāripi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, pañcapi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, dasapi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, vīsatipi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, tiṁsampi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, cattārīsampi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, paññāsampi vassāni ārogyaṁ paṭijānamānā, vassasatampi, bhiyyopi ārogyaṁ paṭijānamānā.
Te, bhikkhave, sattā sudullabhā lokasmiṁ ye cetasikena rogena muhuttampi ārogyaṁ paṭijānanti, aññatra khīṇāsavehi.
Cattārome, bhikkhave, pabbajitassa rogā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu mahiccho hoti vighātavā asantuṭṭho itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
So mahiccho samāno vighātavā asantuṭṭho itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena pāpikaṁ icchaṁ paṇidahati anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya.
So uṭṭhahati ghaṭati vāyamati anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya.
So saṅkhāya kulāni upasaṅkamati, saṅkhāya nisīdati, saṅkhāya dhammaṁ bhāsati, saṅkhāya uccārapassāvaṁ sandhāreti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro pabbajitassa rogā.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘na mahicchā bhavissāma vighātavanto asantuṭṭhā itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena, na pāpikaṁ icchaṁ paṇidahissāma anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya, na uṭṭhahissāma na ghaṭessāma na vāyamissāma anavaññappaṭilābhāya lābhasakkārasilokappaṭilābhāya, khamā bhavissāma sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātikā bhavissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.