TTC 1Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đi đến Tôn giả Phagguna, vì lòng từ mẫn.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Phagguna. Tôn giả Phagguna thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy, muốn rời khỏi giường. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:
—Thôi được rồi, Phagguna! Thầy chớ có rời khỏi giường. Ðã có những chỗ ngồi đã soạn từ trước, Ta sẽ ngồi tại các chỗ ấy.
Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:
—Này Phagguna, mong rằng Thầy có thể kham nhẫn! Mong rằng Thầy có thể chịu đựng! Mong rằng các khổ thọ được giảm thiểu, không tăng trưởng! Mong rằng triệu chứng giảm thiểu được thấy rõ, không tăng trưởng!
—Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn. Con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con tăng trưởng, không có giảm thiểu. Triệu chứng tăng trưởng được thấy rõ, không có giảm thiểu! Bạch Thế Tôn, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, những ngọn gió kinh khủng thổi lên, đau nhói trong đầu con. Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng, khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu.
Rồi Thế Tôn, với pháp thoại, nói lên cho Tôn giả Phagguna biết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi, đứng dậy và ra đi.
TTC 2Rồi Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền mệnh chung. Trong khi Tôn giả lâm chung, các căn được sáng chói. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, đã mệnh chung. Trong khi Tôn giả mệnh chung, các căn được sáng chói.
—Này Ananda, tại sao các căn của Tôn giả Phagguna lại không sáng chói chứ? Này Ananda, với Tỷ-kheo Phagguna, tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Có sáu lợi ích này, này Ananda, nếu nghe pháp đúng thời, và thẩm sát ý nghĩa đúng thời. Thế nào là sáu?
TTC 3Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mạng chung, được thấy Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Ðây là lợi ích thứ nhất, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 4Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Thế Tôn, nhưng chỉ được thấy đệ tử Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi ích thứ hai khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 5Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử của Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt; do vị ấy, với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt, nên tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi ích thứ ba khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
TTC 6Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung được thấy Như Lai. Và Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ananda, đây là lợi ích thứ tư khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 7Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mạng chung không được thấy Như Lai, chỉ được thấy đệ tử của Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ananda, đây là lợi ích thứ năm khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 8Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được học thông suốt, do vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thông suốt, nên tâm được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y này. Này Ananda, đây là lợi ích thứ sáu khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
Có sáu lợi ích này, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời, và khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
Tena kho pana samayena āyasmā phagguno ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, phagguno ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Sādhu, bhante, bhagavā yenāyasmā phagguno tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā phagguno tenupasaṅkami.
Addasā kho āyasmā phagguno bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ phaggunaṁ etadavoca:
“alaṁ, phagguna, mā tvaṁ mañcake samadhosi.
Santimāni āsanāni parehi paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ phaggunaṁ etadavoca:
“Kacci te, phagguna, khamanīyaṁ kacci yāpanīyaṁ? Kacci te dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evamevaṁ kho me, bhante, adhimattā vātā muddhani ūhananti.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīsaveṭhanaṁ dadeyya; evamevaṁ kho me, bhante, adhimattā sīse sīsavedanā.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evamevaṁ kho me, bhante, adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evamevaṁ kho me, bhante, adhimatto kāyasmiṁ ḍāho.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ phaggunaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā phagguno acirapakkantassa bhagavato kālamakāsi.
Tamhi cassa samaye maraṇakāle indriyāni vippasīdiṁsu.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, phagguno acirapakkantassa bhagavato kālamakāsi.
Tamhi cassa samaye maraṇakāle indriyāni vippasīdiṁsū”ti.
“Kiṁ hānanda, phaggunassa bhikkhuno indriyāni na vippasīdissanti.
Phaggunassa, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ ahosi.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ.
Chayime, ānanda, ānisaṁsā kālena dhammassavane kālena atthupaparikkhāya.
Katame cha?
Idhānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle labhati tathāgataṁ dassanāya.
Tassa tathāgato dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, paṭhamo ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, api ca kho tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya.
Tassa tathāgatasāvako dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, dutiyo ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, napi tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya;
api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati.
Tassa yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkayato anuvicārayato manasānupekkhato pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, tatiyo ānisaṁso kālena atthupaparikkhāya.
Idhānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ hoti, anuttare ca kho upadhisaṅkhaye cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle labhati tathāgataṁ dassanāya.
Tassa tathāgato dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ …pe… brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā anuttare upadhisaṅkhaye cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, catuttho ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ hoti, anuttare ca kho upadhisaṅkhaye cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, api ca kho tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya.
Tassa tathāgatasāvako dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ …pe… parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā anuttare upadhisaṅkhaye cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, pañcamo ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ hoti, anuttare ca kho upadhisaṅkhaye cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, napi tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya;
api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati.
Tassa yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkayato anuvicārayato manasānupekkhato anuttare upadhisaṅkhaye cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, chaṭṭho ānisaṁso kālena atthupaparikkhāya.
Ime kho, ānanda, cha ānisaṁsā kālena dhammassavane kālena atthupaparikkhāyā”ti.
Dutiyaṁ.
Now at that time Venerable Phagguna was sick, suffering, gravely ill.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, Venerable Phagguna is sick.
Sir, please go to Venerable Phagguna out of sympathy.”
The Buddha consented with silence.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to Venerable Phagguna.
Venerable Phagguna saw the Buddha coming off in the distance
and stirred in his cot.
The Buddha said to him,
“It’s all right, Phagguna, don’t get up.
There are some seats spread out by others, I will sit there.”
He sat on the seat spread out
and said to Venerable Phagguna:
“I hope you’re keeping well, Phagguna; I hope you’re all right. And I hope the pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”
“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. The pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.
The winds piercing my head are so severe, it feels like a strong man drilling into my head with a sharp point.
I’m not keeping well.
The pain in my head is so severe, it feels like a strong man tightening a strong leather strap around my head.
I’m not keeping well.
The winds slicing my belly are so severe, like a deft butcher or their apprentice were slicing open a cows’s belly with a sharp meat cleaver.
I’m not keeping well.
The burning in my body is so severe, it feels like two strong men grabbing a weaker man by the arms to burn and scorch him on a pit of glowing coals.
I’m not keeping well, I’m not getting by. The pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired Venerable Phagguna with a Dhamma talk, after which he got up from his seat and left.
Not long after the Buddha left, Venerable Phagguna passed away.
At the time of his death, his faculties were bright and clear.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Sir, soon after the Buddha left, Venerable Phagguna died.
At the time of his death, his faculties were bright and clear.”
“And why shouldn’t his faculties be bright and clear?
The mendicant Phagguna’s mind was not freed from the five lower fetters.
But when he heard that teaching his mind was freed from them.
Ānanda, there are these six benefits to hearing the teaching at the right time and examining the meaning at the right time.
What six?
Firstly, take the case of a mendicant whose mind is not freed from the five lower fetters.
At the time of death they get to see the Realized One.
The Realized One proclaims a teaching to them that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
When they hear that teaching their mind is freed from the five lower fetters.
This is the first benefit of listening to the teaching.
Next, take the case of another mendicant whose mind is not freed from the five lower fetters.
At the time of death they don’t get to see the Realized One, but they get to see a Realized One’s disciple.
The Realized One’s disciple teaches them Dhamma …
When they hear that teaching their mind is freed from the five lower fetters.
This is the second benefit of listening to the teaching.
Next, take the case of another mendicant whose mind is not freed from the five lower fetters.
At the time of death they don’t get to see the Realized One, or to see a Realized One’s disciple.
But they think about and consider the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it.
As they do so their mind is freed from the five lower fetters.
This is the third benefit of listening to the teaching.
Next, take the case of a mendicant whose mind is freed from the five lower fetters, but not with the supreme ending of attachments.
At the time of death they get to see the Realized One.
The Realized One teaches them Dhamma …
When they hear that teaching their mind is freed with the supreme ending of attachments.
This is the fourth benefit of listening to the teaching.
Next, take the case of another mendicant whose mind is freed from the five lower fetters, but not with the supreme ending of attachments.
At the time of death they don’t get to see the Realized One, but they get to see a Realized One’s disciple.
The Realized One’s disciple teaches them Dhamma …
When they hear that teaching their mind is freed with the supreme ending of attachments.
This is the fifth benefit of listening to the teaching.
Next, take the case of another mendicant whose mind is freed from the five lower fetters, but not with the supreme ending of attachments.
At the time of death they don’t get to see the Realized One, or to see a Realized One’s disciple.
But they think about and consider the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it.
As they do so their mind is freed with the supreme ending of attachments.
This is the sixth benefit of listening to the teaching.
These are the six benefits to hearing the teaching at the right time and examining the meaning at the right time.”
TTC 1Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đi đến Tôn giả Phagguna, vì lòng từ mẫn.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Phagguna. Tôn giả Phagguna thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy, muốn rời khỏi giường. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:
—Thôi được rồi, Phagguna! Thầy chớ có rời khỏi giường. Ðã có những chỗ ngồi đã soạn từ trước, Ta sẽ ngồi tại các chỗ ấy.
Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:
—Này Phagguna, mong rằng Thầy có thể kham nhẫn! Mong rằng Thầy có thể chịu đựng! Mong rằng các khổ thọ được giảm thiểu, không tăng trưởng! Mong rằng triệu chứng giảm thiểu được thấy rõ, không tăng trưởng!
—Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn. Con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con tăng trưởng, không có giảm thiểu. Triệu chứng tăng trưởng được thấy rõ, không có giảm thiểu! Bạch Thế Tôn, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, những ngọn gió kinh khủng thổi lên, đau nhói trong đầu con. Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng, khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu.
Rồi Thế Tôn, với pháp thoại, nói lên cho Tôn giả Phagguna biết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi, đứng dậy và ra đi.
TTC 2Rồi Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền mệnh chung. Trong khi Tôn giả lâm chung, các căn được sáng chói. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, đã mệnh chung. Trong khi Tôn giả mệnh chung, các căn được sáng chói.
—Này Ananda, tại sao các căn của Tôn giả Phagguna lại không sáng chói chứ? Này Ananda, với Tỷ-kheo Phagguna, tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Có sáu lợi ích này, này Ananda, nếu nghe pháp đúng thời, và thẩm sát ý nghĩa đúng thời. Thế nào là sáu?
TTC 3Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mạng chung, được thấy Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Ðây là lợi ích thứ nhất, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 4Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Thế Tôn, nhưng chỉ được thấy đệ tử Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi ích thứ hai khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 5Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử của Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt; do vị ấy, với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt, nên tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi ích thứ ba khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
TTC 6Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung được thấy Như Lai. Và Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ananda, đây là lợi ích thứ tư khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 7Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mạng chung không được thấy Như Lai, chỉ được thấy đệ tử của Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ananda, đây là lợi ích thứ năm khi được nghe pháp đúng thời.
TTC 8Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được học thông suốt, do vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thông suốt, nên tâm được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y này. Này Ananda, đây là lợi ích thứ sáu khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
Có sáu lợi ích này, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời, và khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
Tena kho pana samayena āyasmā phagguno ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, phagguno ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Sādhu, bhante, bhagavā yenāyasmā phagguno tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā phagguno tenupasaṅkami.
Addasā kho āyasmā phagguno bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ phaggunaṁ etadavoca:
“alaṁ, phagguna, mā tvaṁ mañcake samadhosi.
Santimāni āsanāni parehi paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ phaggunaṁ etadavoca:
“Kacci te, phagguna, khamanīyaṁ kacci yāpanīyaṁ? Kacci te dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evamevaṁ kho me, bhante, adhimattā vātā muddhani ūhananti.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīsaveṭhanaṁ dadeyya; evamevaṁ kho me, bhante, adhimattā sīse sīsavedanā.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evamevaṁ kho me, bhante, adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo.
Seyyathāpi, bhante, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evamevaṁ kho me, bhante, adhimatto kāyasmiṁ ḍāho.
Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ phaggunaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā phagguno acirapakkantassa bhagavato kālamakāsi.
Tamhi cassa samaye maraṇakāle indriyāni vippasīdiṁsu.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, phagguno acirapakkantassa bhagavato kālamakāsi.
Tamhi cassa samaye maraṇakāle indriyāni vippasīdiṁsū”ti.
“Kiṁ hānanda, phaggunassa bhikkhuno indriyāni na vippasīdissanti.
Phaggunassa, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ ahosi.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ.
Chayime, ānanda, ānisaṁsā kālena dhammassavane kālena atthupaparikkhāya.
Katame cha?
Idhānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle labhati tathāgataṁ dassanāya.
Tassa tathāgato dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, paṭhamo ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, api ca kho tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya.
Tassa tathāgatasāvako dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, dutiyo ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, napi tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya;
api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati.
Tassa yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkayato anuvicārayato manasānupekkhato pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, tatiyo ānisaṁso kālena atthupaparikkhāya.
Idhānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ hoti, anuttare ca kho upadhisaṅkhaye cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle labhati tathāgataṁ dassanāya.
Tassa tathāgato dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ …pe… brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā anuttare upadhisaṅkhaye cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, catuttho ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ hoti, anuttare ca kho upadhisaṅkhaye cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, api ca kho tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya.
Tassa tathāgatasāvako dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ …pe… parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā anuttare upadhisaṅkhaye cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, pañcamo ānisaṁso kālena dhammassavane.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ hoti, anuttare ca kho upadhisaṅkhaye cittaṁ avimuttaṁ hoti.
So tamhi samaye maraṇakāle na heva kho labhati tathāgataṁ dassanāya, napi tathāgatasāvakaṁ labhati dassanāya;
api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati.
Tassa yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkayato anuvicārayato manasānupekkhato anuttare upadhisaṅkhaye cittaṁ vimuccati.
Ayaṁ, ānanda, chaṭṭho ānisaṁso kālena atthupaparikkhāya.
Ime kho, ānanda, cha ānisaṁsā kālena dhammassavane kālena atthupaparikkhāyā”ti.
Dutiyaṁ.