TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kajangalà, tại Trúc Lâm. Bấy giờ có rất nhiều nam cư sĩ ở Kajangalà đi đến Tỷ-kheo-ni trú ở Kajangalà, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nhà cư sĩ ở Kajangalà nói với Ty-kheo-ni ở Kjangalà:
TTC 2—Thưa Ðại Tỷ, Thế Tôn có tuyên bố trong các câu hỏi lớn: “Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời; hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời; ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời; bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời; năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời; sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời; bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời; tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời; chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời.” Thưa Ðại Tỷ, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn ý nghĩa rộng rãi cần phải hiểu như thế nào?
TTC 3—Này các Hiền giả, tôi không được tận mặt nghe và tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn. Tôi cũng không được tận mặt nghe và tận mặt lãnh thọ từ các Tỷ-kheo có tu tập về ý. Tuy vậy, ở đây, vấn đề được trình bày với tôi như thế nào, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Ðại tỷ.
Các nam cư sĩ ở Kajangalà vâng đáp Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà. Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà nói như sau:
TTC 4-5—Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy? (… Ở đây, giống như 4 câu hỏi đầu của kinh trước).
TTC 6Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời được Thế Tôn nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bốn pháp, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, tâm chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bốn pháp?
-—Trong bốn niệm xứ.
Trong bốn pháp này, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, chơn chánh… là người chấm dứt khổ đau.
Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.
TTC 7-8Năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong năm pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm… là người chấm dứt khổ đau. Trong năm pháp gì?
-—Trong năm căn…
Trong sáu pháp gì?
-—Trong sáu xuất ly giới…
Trong bảy pháp gì?
-—Trong bảy giác chi…
Trong tám pháp gì?
-—Trong con đường Thánh có tám ngành…
Trong chín pháp gì?
-—Trong chín hữu tình cư…
TTC 9Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong mười pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong mười pháp?
-—Trong mười thiện đạo.
Trong mười pháp này, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 10Như vậy, này chư Hiền, Thế Tôn đã nói đến trong các câu hỏi lớn: “Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời…; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời”. Này chư Hiền, lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Này chư Hiền, nếu muốn, các vị hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời các hiền giả như thế nào, hay như vậy thọ trì.
—Thưa vâng, Ðại tỷ.
Các nam cư sĩ ở Kajangalà sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà, thân phía hữu hướng về Tỳ kheo ni rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ ở Kajangalà, đem câu chuyện nói với Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà như thế nào, tất cả đều thuật lên Thế Tôn rõ.
TTC 11—Lành thay, lành thay, này các Gia chủ. Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, nếu các Ông có đi đến Ta và hỏi ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà đã trả lời.
Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy, hãy như vậy thọ trì.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kajaṅgalāyaṁ viharati veḷuvane.
Atha kho sambahulā kajaṅgalakā upāsakā yena kajaṅgalikā bhikkhunī tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ etadavocuṁ:
“Vuttamidaṁ, ayye, bhagavatā mahāpañhesu:
‘eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ, dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇāni, tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇāni, cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇāni, pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇāni, cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇāni, satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇāni, aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇāni, nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇāni, dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti.
Imassa nu kho, ayye, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Na kho panetaṁ, āvuso, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ, napi manobhāvanīyānaṁ bhikkhūnaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ;
api ca yathā mettha khāyati
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, ayye”ti, kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikāya bhikkhuniyā paccassosuṁ.
Kajaṅgalikā bhikkhunī etadavoca:
“‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Ekadhamme, āvuso, bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamasmiṁ ekadhamme?
Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā—
imasmiṁ kho, āvuso, ekadhamme bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti iti, kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dvīsu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dvīsu?
Nāme ca rūpe ca …pe…
katamesu tīsu?
Tīsu vedanāsu—
imesu kho, āvuso, tīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Catūsu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu catūsu?
Catūsu satipaṭṭhānesu—
imesu kho, āvuso, catūsu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Pañcasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu pañcasu?
Pañcasu indriyesu …pe…
katamesu chasu?
Chasu nissaraṇīyāsu dhātūsu …pe…
katamesu sattasu?
Sattasu bojjhaṅgesu …pe…
katamesu aṭṭhasu?
Aṭṭhasu ariyaaṭṭhaṅgikamaggesu—
imesu kho, āvuso, aṭṭhasu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Navasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu navasu?
Navasu sattāvāsesu—
imesu kho, āvuso, navasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dasasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dasasu?
Dasasu kusalesu kammapathesu—
imesu kho, āvuso, dasasu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Iti kho, āvuso, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā saṅkhittena bhāsitāsu mahāpañhāsu:
‘eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ …pe…
dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, imassa kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Ākaṅkhamānā ca pana tumhe, āvuso, bhagavantaññeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha.
Yathā vo bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikāya kho bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho kajaṅgalakā upāsakā yāvatako ahosi kajaṅgalikāya bhikkhuniyā saddhiṁ kathāsallāpo, taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesuṁ.
“Sādhu sādhu, gahapatayo.
Paṇḍitā, gahapatayo, kajaṅgalikā bhikkhunī. Mahāpaññā, gahapatayo, kajaṅgalikā bhikkhunī.
Mañcepi tumhe, gahapatayo, upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi cetaṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ kajaṅgalikāya bhikkhuniyā byākataṁ.
Eso ceva tassa attho. Evañca naṁ dhāreyyāthā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Kajaṅgalā in the Bamboo Grove. Then a number of lay followers from Kajaṅgalā approached the bhikkhunī from Kajaṅgalā, paid homage to her, sat down to one side, and said to her:
SC 2“Noble lady, this was said by the Blessed One in ‘The Great Questions’: ‘A question about one, a concise statement about one, an explanation of one. A question about two, a concise statement about two, an explanation of two. A question about three, a concise statement about three, an explanation of three. an.v.55 A question about four, a concise statement about four, an explanation of four. A question about five, a concise statement about five, an explanation of five. A question about six, a concise statement about six, an explanation of six. A question about seven, a concise statement about seven, an explanation of seven. A question about eight, a concise statement about eight, an explanation of eight. A question about nine, a concise statement about nine, an explanation of nine. A question about ten, a concise statement about ten, an explanation of ten.’ How, noble lady, is the meaning of this statement that the Blessed One spoke in brief to be seen in detail?”
SC 3“Friends, I have not heard and learned this in the presence of the Blessed One, nor have I heard and learned this in the presence of esteemed bhikkhus. However, listen and attend closely as I explain what it seems to mean to me.”
SC 4“Yes, noble lady,” those lay followers of Kajaṅgalā replied. The bhikkhunī of Kajaṅgalā said this:
SC 5(1) “When it was said by the Blessed One: ‘A question about one, a concise statement about one, an explanation of one,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with one thing, completely dispassionate toward it, completely liberated from it, completely sees its delimitations, and completely breaks through its meaning, in this very life he makes an end of suffering. What one thing? All beings exist through nutriment. When a bhikkhu is completely disenchanted with this one thing, completely dispassionate toward it, completely liberated from it, completely sees its delimitations, and completely breaks through its meaning, in this very life he makes an end of suffering.
SC 6“When it was said by the Blessed One: ‘A question about one, a concise statement about one, an explanation of one,’ it is with reference to this that this was said. an.v.56
SC 7(2) “When it was said by the Blessed One: ‘A question about two, a concise statement about two, an explanation of two,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with two things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What two things? Name and form….
SC 8(3) … “What three things? The three kinds of feelings. When a bhikkhu is completely disenchanted with these three things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 9“When it was said by the Blessed One: ‘A question about three, a concise statement about three, an explanation of three,’ it is with reference to this that this was said.
SC 10(4) “When it was said by the Blessed One: ‘A question about four, a concise statement about four, an explanation of four,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu has a mind completely well developed in four things, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What four things? The four establishments of mindfulness. When a bhikkhu has a mind completely well developed in these four things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 11“When it was said by the Blessed One: ‘A question about four, a concise statement about four, an explanation of four,’ it is with reference to this that this was said.
SC 12(5)–(8) “When it was said by the Blessed One: ‘A question about five, a concise statement about five, an explanation of five,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu has a mind completely well developed in five things, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What five things? The five faculties. … What six things? an.v.57 The six elements of escape. … What seven things? The seven factors of enlightenment…. What eight things? The noble eightfold path. When a bhikkhu has a mind completely well developed in these eight things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 13“When it was said by the Blessed One: ‘A question about eight, a concise statement about eight, an explanation of eight,’ it is with reference to this that this was said.
SC 14(9) “When it was said by the Blessed One: ‘A question about nine, a concise statement about nine, an explanation of nine,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with nine things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What nine things? The nine abodes of beings. When a bhikkhu is completely disenchanted with these nine things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 15“When it was said by the Blessed One: ‘A question about nine, a concise statement about nine, an explanation of nine,’ it is with reference to this that this was said.
SC 16(10) “When it was said by the Blessed One: ‘A question about ten, a concise statement about ten, an explanation of ten,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu has a mind completely well developed in ten things, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What ten things? The ten wholesome courses of kamma. an.v.58 When a bhikkhu has a mind completely well developed in these ten things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 17“When it was said by the Blessed One: ‘A question about ten, a concise statement about ten, an explanation of ten,’ it is with reference to this that this was said.
SC 18“Thus, friends, when it was said by the Blessed One in ‘The Great Questions’: ‘A question about one, a concise statement about one, an explanation of one…. A question about ten, a concise statement about ten, an explanation of ten,’ it is in such a way that I understand in detail the meaning of this statement that the Blessed One spoke in brief. But if you wish, approach the Blessed One and ask him about this matter. As the Blessed One answers you, so should you retain it in mind.”
SC 19Saying, “Yes, noble lady,” those lay followers of Kajaṅgalā delighted and rejoiced in the statement of the bhikkhunī of Kajaṅgalā. Then they rose from their seats, paid homage to her, circumambulated her keeping the right side toward her, and approached the Blessed One. They paid homage to the Blessed One, sat down to one side, and reported to the Blessed One their entire discussion with the bhikkhunī of Kajaṅgalā. The Blessed One said:
SC 20“Good, good, householders! The bhikkhunī of Kajaṅgalā is wise, of great wisdom. If you had approached me and asked me about this matter, I an.v.59 would have answered exactly as the bhikkhunī of Kajaṅgalā has answered. That is its meaning, and it is in this way that you should retain it in mind.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kajangalà, tại Trúc Lâm. Bấy giờ có rất nhiều nam cư sĩ ở Kajangalà đi đến Tỷ-kheo-ni trú ở Kajangalà, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nhà cư sĩ ở Kajangalà nói với Ty-kheo-ni ở Kjangalà:
TTC 2—Thưa Ðại Tỷ, Thế Tôn có tuyên bố trong các câu hỏi lớn: “Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời; hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời; ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời; bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời; năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời; sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời; bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời; tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời; chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời.” Thưa Ðại Tỷ, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn ý nghĩa rộng rãi cần phải hiểu như thế nào?
TTC 3—Này các Hiền giả, tôi không được tận mặt nghe và tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn. Tôi cũng không được tận mặt nghe và tận mặt lãnh thọ từ các Tỷ-kheo có tu tập về ý. Tuy vậy, ở đây, vấn đề được trình bày với tôi như thế nào, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Ðại tỷ.
Các nam cư sĩ ở Kajangalà vâng đáp Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà. Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà nói như sau:
TTC 4-5—Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy? (… Ở đây, giống như 4 câu hỏi đầu của kinh trước).
TTC 6Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời được Thế Tôn nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bốn pháp, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, tâm chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bốn pháp?
-—Trong bốn niệm xứ.
Trong bốn pháp này, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, chơn chánh… là người chấm dứt khổ đau.
Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.
TTC 7-8Năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong năm pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm… là người chấm dứt khổ đau. Trong năm pháp gì?
-—Trong năm căn…
Trong sáu pháp gì?
-—Trong sáu xuất ly giới…
Trong bảy pháp gì?
-—Trong bảy giác chi…
Trong tám pháp gì?
-—Trong con đường Thánh có tám ngành…
Trong chín pháp gì?
-—Trong chín hữu tình cư…
TTC 9Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong mười pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong mười pháp?
-—Trong mười thiện đạo.
Trong mười pháp này, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đã nói như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 10Như vậy, này chư Hiền, Thế Tôn đã nói đến trong các câu hỏi lớn: “Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời…; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời”. Này chư Hiền, lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Này chư Hiền, nếu muốn, các vị hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời các hiền giả như thế nào, hay như vậy thọ trì.
—Thưa vâng, Ðại tỷ.
Các nam cư sĩ ở Kajangalà sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà, thân phía hữu hướng về Tỳ kheo ni rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ ở Kajangalà, đem câu chuyện nói với Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà như thế nào, tất cả đều thuật lên Thế Tôn rõ.
TTC 11—Lành thay, lành thay, này các Gia chủ. Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, nếu các Ông có đi đến Ta và hỏi ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà đã trả lời.
Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy, hãy như vậy thọ trì.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kajaṅgalāyaṁ viharati veḷuvane.
Atha kho sambahulā kajaṅgalakā upāsakā yena kajaṅgalikā bhikkhunī tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ etadavocuṁ:
“Vuttamidaṁ, ayye, bhagavatā mahāpañhesu:
‘eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ, dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇāni, tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇāni, cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇāni, pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇāni, cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇāni, satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇāni, aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇāni, nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇāni, dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti.
Imassa nu kho, ayye, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Na kho panetaṁ, āvuso, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ, napi manobhāvanīyānaṁ bhikkhūnaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ;
api ca yathā mettha khāyati
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, ayye”ti, kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikāya bhikkhuniyā paccassosuṁ.
Kajaṅgalikā bhikkhunī etadavoca:
“‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Ekadhamme, āvuso, bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamasmiṁ ekadhamme?
Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā—
imasmiṁ kho, āvuso, ekadhamme bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti iti, kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dvīsu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dvīsu?
Nāme ca rūpe ca …pe…
katamesu tīsu?
Tīsu vedanāsu—
imesu kho, āvuso, tīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Catūsu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu catūsu?
Catūsu satipaṭṭhānesu—
imesu kho, āvuso, catūsu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Pañcasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu pañcasu?
Pañcasu indriyesu …pe…
katamesu chasu?
Chasu nissaraṇīyāsu dhātūsu …pe…
katamesu sattasu?
Sattasu bojjhaṅgesu …pe…
katamesu aṭṭhasu?
Aṭṭhasu ariyaaṭṭhaṅgikamaggesu—
imesu kho, āvuso, aṭṭhasu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Navasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu navasu?
Navasu sattāvāsesu—
imesu kho, āvuso, navasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dasasu, āvuso, dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dasasu?
Dasasu kusalesu kammapathesu—
imesu kho, āvuso, dasasu dhammesu bhikkhu sammā subhāvitacitto sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Iti kho, āvuso, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā saṅkhittena bhāsitāsu mahāpañhāsu:
‘eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ …pe…
dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti, imassa kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Ākaṅkhamānā ca pana tumhe, āvuso, bhagavantaññeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha.
Yathā vo bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho kajaṅgalakā upāsakā kajaṅgalikāya kho bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā kajaṅgalikaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho kajaṅgalakā upāsakā yāvatako ahosi kajaṅgalikāya bhikkhuniyā saddhiṁ kathāsallāpo, taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesuṁ.
“Sādhu sādhu, gahapatayo.
Paṇḍitā, gahapatayo, kajaṅgalikā bhikkhunī. Mahāpaññā, gahapatayo, kajaṅgalikā bhikkhunī.
Mañcepi tumhe, gahapatayo, upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi cetaṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ kajaṅgalikāya bhikkhuniyā byākataṁ.
Eso ceva tassa attho. Evañca naṁ dhāreyyāthā”ti.
Aṭṭhamaṁ.