Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
—Thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử hộ trì chúng Tỷ-kheo, hộ trì chúng Tỷ-kheo với y, hộ trì chúng Tỷ-kheo với đồ ăn khất thực, hộ trì chúng Tỷ-kheo với sàng tọa, hộ trì chúng Tỷ-kheo với dược phẩm trị bệnh.
Thành tựu với bốn pháp này, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời.
Bậc Hiền trí thực hiện,
Con đường thật xứng đáng,
Của người làm gia chủ,
Hộ trì bậc có giới,
Bậc sở hành chơn chánh,
Hộ trì với y áo,
Với đồ ăn khất thực,
Sàng tọa, thuốc trị bệnh,
Công đức họ tăng trưởng,
Thường hằng, ngày lẫn đêm,
Do làm nghiệp hiền thiện,
Ði đến cảnh chư Thiên.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“Catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgato ariyasāvako gihisāmīcipaṭipadaṁ paṭipanno hoti yasopaṭilābhiniṁ saggasaṁvattanikaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, gahapati, ariyasāvako bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti cīvarena, bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti piṇḍapātena, bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti senāsanena, bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti gilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako gihisāmīcipaṭipadaṁ paṭipanno hoti yasopaṭilābhiniṁ saggasaṁvattanikanti.
Gihisāmīcipaṭipadaṁ,
paṭipajjanti paṇḍitā;
Sammaggate sīlavante,
cīvarena upaṭṭhitā.
Piṇḍapātasayanena,
Gilānappaccayena ca;
Tesaṁ divā ca ratto ca,
Sadā puññaṁ pavaḍḍhati;
Saggañca kamatiṭṭhānaṁ,
Kammaṁ katvāna bhaddakan”ti.
Dasamaṁ.
Puññābhisandavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Dve puññābhisandā dve ca,
saṁvāsā samajīvino;
Suppavāsā sudatto ca,
bhojanaṁ gihisāmicīti.
SC 1Then the householder Anāthapiṇḍika approached the Blessed One…. The Blessed One said to him:
SC 2“Householder, a noble disciple who possesses four qualities is practicing the way proper to the layperson, a way that brings the attainment of fame and leads to heaven. What four?
SC 3“Here, householder, a noble disciple serves the Saṅgha of bhikkhus with robes; he serves the Saṅgha of bhikkhus with almsfood; he serves the Saṅgha of bhikkhus with lodgings; he serves the Saṅgha of bhikkhus with medicines and provisions for the sick.
SC 4“Householder, a noble disciple who possesses these four qualities is practicing the way proper to the layperson, a way that brings the attainment of fame and leads to heaven.”
SC 5When the wise practice the way
proper for the layperson, they serve
the virtuous monks of upright conduct
with robes, almsfood, lodgings, and medicines:
SC 6for them both by day and night
merit always increases;
having done excellent deeds,
they pass on to a heavenly state.
Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
—Thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử hộ trì chúng Tỷ-kheo, hộ trì chúng Tỷ-kheo với y, hộ trì chúng Tỷ-kheo với đồ ăn khất thực, hộ trì chúng Tỷ-kheo với sàng tọa, hộ trì chúng Tỷ-kheo với dược phẩm trị bệnh.
Thành tựu với bốn pháp này, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử bước vào con đường thích đáng của người gia chủ, con đường đem lại tiếng tốt, con đường đưa đến cõi Trời.
Bậc Hiền trí thực hiện,
Con đường thật xứng đáng,
Của người làm gia chủ,
Hộ trì bậc có giới,
Bậc sở hành chơn chánh,
Hộ trì với y áo,
Với đồ ăn khất thực,
Sàng tọa, thuốc trị bệnh,
Công đức họ tăng trưởng,
Thường hằng, ngày lẫn đêm,
Do làm nghiệp hiền thiện,
Ði đến cảnh chư Thiên.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“Catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgato ariyasāvako gihisāmīcipaṭipadaṁ paṭipanno hoti yasopaṭilābhiniṁ saggasaṁvattanikaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, gahapati, ariyasāvako bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti cīvarena, bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti piṇḍapātena, bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti senāsanena, bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhito hoti gilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako gihisāmīcipaṭipadaṁ paṭipanno hoti yasopaṭilābhiniṁ saggasaṁvattanikanti.
Gihisāmīcipaṭipadaṁ,
paṭipajjanti paṇḍitā;
Sammaggate sīlavante,
cīvarena upaṭṭhitā.
Piṇḍapātasayanena,
Gilānappaccayena ca;
Tesaṁ divā ca ratto ca,
Sadā puññaṁ pavaḍḍhati;
Saggañca kamatiṭṭhānaṁ,
Kammaṁ katvāna bhaddakan”ti.
Dasamaṁ.
Puññābhisandavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Dve puññābhisandā dve ca,
saṁvāsā samajīvino;
Suppavāsā sudatto ca,
bhojanaṁ gihisāmicīti.