TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Sàriputta, Moggallàna”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo của ta, tức là Sàriputta, Moggallàna.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Khema và Tỷ-kheo-ni Uppalavannà”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo-ni của ta, tức là Khema và Uppalavannà.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như gia chủ Citta, và Hatthaka người Alavì”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka người Alavì.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà.
“Saddho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādisā sāriputtamoggallānā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ, yadidaṁ sāriputtamoggallānā.
Saddhā, bhikkhave, bhikkhunī evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisā homi yādisā khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ, yadidaṁ khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā ca.
Saddho, bhikkhave, upāsako evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādiso citto ca gahapati hatthako ca āḷavako’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ upāsakānaṁ, yadidaṁ citto ca gahapati hatthako ca āḷavako.
Saddhā, bhikkhave, upāsikā evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisā homi yādisā khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ, yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Mendicants, a faithful monk would rightly aspire:
‘May I be like Sāriputta and Moggallāna!’
These are a standard and a measure for my monk disciples, that is, Sāriputta and Moggallāna.
A faithful nun would rightly aspire:
‘May I be like the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā!’
These are a standard and a measure for my nun disciples, that is, the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.
A faithful layman would rightly aspire:
‘May I be like the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī!’
These are a standard and a measure for my male lay disciples, that is, the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī.
A faithful laywoman would rightly aspire:
‘May I be like the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother!’
These are a standard and a measure for my female lay disciples, that is, the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Sàriputta, Moggallàna”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo của ta, tức là Sàriputta, Moggallàna.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Khema và Tỷ-kheo-ni Uppalavannà”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo-ni của ta, tức là Khema và Uppalavannà.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như gia chủ Citta, và Hatthaka người Alavì”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka người Alavì.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà.
“Saddho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādisā sāriputtamoggallānā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ, yadidaṁ sāriputtamoggallānā.
Saddhā, bhikkhave, bhikkhunī evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisā homi yādisā khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ, yadidaṁ khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā ca.
Saddho, bhikkhave, upāsako evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya:
‘tādiso homi yādiso citto ca gahapati hatthako ca āḷavako’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ upāsakānaṁ, yadidaṁ citto ca gahapati hatthako ca āḷavako.
Saddhā, bhikkhave, upāsikā evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya:
‘tādisā homi yādisā khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ, yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā”ti.
Chaṭṭhaṁ.