TTC 1—Tám thế gian pháp này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
TTC 2Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
TTC 3Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ. Với vị Thánh đệ tử nghe pháp, cũng sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có đặc thù gì, thù thắng gì, có sai khác gì giữa vị Thánh có nghe pháp và kẻ phàm phu không có nghe pháp?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn giảng cho ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy lắng nghe và suy niệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 4—Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy không có suy tư: “Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, khổ, biến hoại”. Vị ấy không như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên tán thán … khởi lên chỉ trích … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy không có suy tư: “Khổ này khởi lên nơi ta, khổ ấy là vô thường khổ, biến hoại”. Vị ấy không như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, không lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, danh vọng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, không danh vọng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, tán thán xâm nhập tâm của người ấy và an trú, chỉ trích xâm nhập tâm của người ấy và an trú, an lạc xâm nhập tâm của người ấy và an trú, đau khổ xâm nhập tâm của người ấy và an trú”. Người ấy thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và nghịch ứng với không lợi dưỡng; thuận ứng với danh vọng được khởi lên và nghịch ứng với không danh vọng; thuận ứng với tán thán được khởi lên và nghịch ứng với chỉ trích; thuận ứng với an lạc được khởi lên và nghịch ứng với đau khổ; Người ấy đầy đủ thuận ứng, nghịch ứng như vậy, không có giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, người ấy không thoát khỏi khổ.
TTC 5Với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy có suy tư: “Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, đau khổ, biến hoại”. Vị ấy như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên tán thán … khởi lên chỉ trích … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy có suy tư: “Ðau khổ này khởi lên nơi ta, đau khổ ấy là vô thường, khổ đau, biến hoại”. Vị ấy như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng này không xâm nhập tâm của vị ấy và an trú, không lợi dưỡng …., danh vọng….., không danh vọng …. tán thán… chỉ trích… an lạc… đau khổ không xâm nhập tâm của vị ấy và an trú. Vị ấy không thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên, không nghịch ứng với không lợi dưỡng; không thuận ứng với danh vọng được khởi lên, không nghịch ứng với không danh vọng; không thuận ứng với tán thán được khởi lên, không nghịch ứng với chỉ trích; không thuận ứng với an lạc được khởi lên, không nghịch ứng với đau khổ; Vị ấy do đoạn tận thuận ứng, nghịch ứng như vậy, nên giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, vị ấy thoát khỏi khổ.
Ðây là đặc thù, này các Tỷ-kheo, đây là thù thắng, đây là sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp.
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Những pháp này vô thường
Không thường hằng biến diệt
Biết chúng giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.
“Aṭṭhime, bhikkhave, lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca aṭṭha lokadhamme anuparivattati.
Katame aṭṭha?
Lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṁsā ca, sukhañca, dukkhañca.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca ime aṭṭha lokadhamme anuparivattati.
Assutavato, bhikkhave, puthujjanassa uppajjati lābhopi alābhopi yasopi ayasopi nindāpi pasaṁsāpi sukhampi dukkhampi.
Sutavatopi, bhikkhave, ariyasāvakassa uppajjati lābhopi alābhopi yasopi ayasopi nindāpi pasaṁsāpi sukhampi dukkhampi.
Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“assutavato, bhikkhave, puthujjanassa uppajjati lābho.
So na iti paṭisañcikkhati:
‘uppanno kho me ayaṁ lābho;
so ca kho anicco dukkho vipariṇāmadhammo’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Uppajjati alābho …pe…
uppajjati yaso …
uppajjati ayaso …
uppajjati nindā …
uppajjati pasaṁsā …
uppajjati sukhaṁ …
uppajjati dukkhaṁ.
So na iti paṭisañcikkhati:
‘uppannaṁ kho me idaṁ dukkhaṁ;
tañca kho aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhamman’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa lābhopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, alābhopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, yasopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, ayasopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, nindāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, pasaṁsāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, sukhampi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, dukkhampi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati.
So uppannaṁ lābhaṁ anurujjhati, alābhe paṭivirujjhati;
uppannaṁ yasaṁ anurujjhati, ayase paṭivirujjhati;
uppannaṁ pasaṁsaṁ anurujjhati, nindāya paṭivirujjhati;
uppannaṁ sukhaṁ anurujjhati, dukkhe paṭivirujjhati.
So evaṁ anurodhavirodhasamāpanno na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi.
‘Na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa uppajjati lābho.
So iti paṭisañcikkhati:
‘uppanno kho me ayaṁ lābho;
so ca kho anicco dukkho vipariṇāmadhammo’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Uppajjati alābho …pe…
uppajjati yaso …
uppajjati ayaso …
uppajjati nindā …
uppajjati pasaṁsā …
uppajjati sukhaṁ …
uppajjati dukkhaṁ.
So iti paṭisañcikkhati:
‘uppannaṁ kho me idaṁ dukkhaṁ;
tañca kho aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhamman’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa lābhopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, alābhopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, yasopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, ayasopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, nindāpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, pasaṁsāpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, sukhampi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, dukkhampi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
So uppannaṁ lābhaṁ nānurujjhati, alābhe nappaṭivirujjhati;
uppannaṁ yasaṁ nānurujjhati, ayase nappaṭivirujjhati;
uppannaṁ pasaṁsaṁ nānurujjhati, nindāya nappaṭivirujjhati;
uppannaṁ sukhaṁ nānurujjhati, dukkhe nappaṭivirujjhati.
So evaṁ anurodhavirodhavippahīno parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi.
‘Parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso ayaṁ adhippayāso idaṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenāti.
Lābho alābho ca yasāyaso ca,
Nindā pasaṁsā ca sukhaṁ dukhañca;
Ete aniccā manujesu dhammā,
Asassatā vipariṇāmadhammā.
Ete ca ñatvā satimā sumedho,
Avekkhati vipariṇāmadhamme;
Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ,
Aniṭṭhato no paṭighātameti.
Tassānurodhā atha vā virodhā,
Vidhūpitā atthaṅgatā na santi;
Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ,
Sammappajānāti bhavassa pāragū”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Bhikkhus, these eight worldly conditions revolve around the world, and the world revolves around these eight worldly conditions. What eight? Gain and loss, disrepute and fame, blame and praise, and pleasure and pain. These eight worldly conditions revolve around the world, and the world revolves around these eight worldly conditions.
SC 2“Bhikkhus, an uninstructed worldling meets gain and loss, disrepute and fame, blame and praise, and pleasure and pain. An instructed noble disciple also meets gain and loss, disrepute and fame, blame and praise, and pleasure and pain. What an.iv.158 is the distinction, the disparity, the difference between an instructed noble disciple and an uninstructed worldling with regard to this?”
SC 3“Bhante, our teachings are rooted in the Blessed One, guided by the Blessed One, take recourse in the Blessed One. It would be good if the Blessed One would clear up the meaning of this statement. Having heard it from him, the bhikkhus will retain it in mind.”
SC 4“Then listen, bhikkhus, and attend closely. I will speak.”
SC 5“Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 6“(1) Bhikkhus, when an uninstructed worldling meets with gain, he does not reflect thus: ‘This gain that I have met is impermanent, suffering, and subject to change.’ He does not understand it as it really is. (2) When he meets with loss … (3) … fame … (4) … disrepute … (5) … blame … (6) … praise … (7) … pleasure … (8) … pain, he does not reflect thus: ‘This pain that I have met is impermanent, suffering, and subject to change.’ He does not understand it as it really is.
SC 7“Gain obsesses his mind, and loss obsesses his mind. Fame obsesses his mind, and disrepute obsesses his mind. Blame obsesses his mind, and praise obsesses his mind. Pleasure obsesses his mind, and pain obsesses his mind. He is attracted to gain and repelled by loss. He is attracted to fame and repelled by disrepute. He is attracted to praise and repelled by blame. He is attracted to pleasure and repelled by pain. Thus involved with attraction and repulsion, he is not freed from birth, from old age and death, from sorrow, lamentation, pain, dejection, and anguish; he is not freed from suffering, I say.
SC 8“But, bhikkhus, (1) when an instructed noble disciple meets with gain, he reflects thus: ‘This gain that I have met is impermanent, suffering, and subject to change.’ He thus understands it as it really is. (2) When he meets with loss … (3) … fame … (4) … an.iv.159 disrepute … (5) … blame … (6) … praise … (7) … pleasure … (8) … pain, he reflects thus: ‘This pain that I have met is impermanent, suffering, and subject to change.’ He thus understands it as it really is.
SC 9“Gain does not obsess his mind, and loss does not obsess his mind. Fame does not obsess his mind, and disrepute does not obsess his mind. Blame does not obsess his mind, and praise does not obsess his mind. Pleasure does not obsess his mind, and pain does not obsess his mind. He is not attracted to gain or repelled by loss. He is not attracted to fame or repelled by disrepute. He is not attracted to praise or repelled by blame. He is not attracted to pleasure or repelled by pain. Having thus discarded attraction and repulsion, he is freed from birth, from old age and death, from sorrow, lamentation, pain, dejection, and anguish; he is freed from suffering, I say.
SC 10“This, bhikkhus, is the distinction, the disparity, the difference between an instructed noble disciple and an uninstructed worldling.”
The verses are identical with those of 8:5. an.iv.160
TTC 1—Tám thế gian pháp này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
TTC 2Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
TTC 3Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ. Với vị Thánh đệ tử nghe pháp, cũng sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có đặc thù gì, thù thắng gì, có sai khác gì giữa vị Thánh có nghe pháp và kẻ phàm phu không có nghe pháp?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn giảng cho ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy lắng nghe và suy niệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 4—Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy không có suy tư: “Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, khổ, biến hoại”. Vị ấy không như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên tán thán … khởi lên chỉ trích … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy không có suy tư: “Khổ này khởi lên nơi ta, khổ ấy là vô thường khổ, biến hoại”. Vị ấy không như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, không lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, danh vọng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, không danh vọng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, tán thán xâm nhập tâm của người ấy và an trú, chỉ trích xâm nhập tâm của người ấy và an trú, an lạc xâm nhập tâm của người ấy và an trú, đau khổ xâm nhập tâm của người ấy và an trú”. Người ấy thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và nghịch ứng với không lợi dưỡng; thuận ứng với danh vọng được khởi lên và nghịch ứng với không danh vọng; thuận ứng với tán thán được khởi lên và nghịch ứng với chỉ trích; thuận ứng với an lạc được khởi lên và nghịch ứng với đau khổ; Người ấy đầy đủ thuận ứng, nghịch ứng như vậy, không có giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, người ấy không thoát khỏi khổ.
TTC 5Với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy có suy tư: “Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, đau khổ, biến hoại”. Vị ấy như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên tán thán … khởi lên chỉ trích … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy có suy tư: “Ðau khổ này khởi lên nơi ta, đau khổ ấy là vô thường, khổ đau, biến hoại”. Vị ấy như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng này không xâm nhập tâm của vị ấy và an trú, không lợi dưỡng …., danh vọng….., không danh vọng …. tán thán… chỉ trích… an lạc… đau khổ không xâm nhập tâm của vị ấy và an trú. Vị ấy không thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên, không nghịch ứng với không lợi dưỡng; không thuận ứng với danh vọng được khởi lên, không nghịch ứng với không danh vọng; không thuận ứng với tán thán được khởi lên, không nghịch ứng với chỉ trích; không thuận ứng với an lạc được khởi lên, không nghịch ứng với đau khổ; Vị ấy do đoạn tận thuận ứng, nghịch ứng như vậy, nên giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, vị ấy thoát khỏi khổ.
Ðây là đặc thù, này các Tỷ-kheo, đây là thù thắng, đây là sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp.
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Những pháp này vô thường
Không thường hằng biến diệt
Biết chúng giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.
“Aṭṭhime, bhikkhave, lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca aṭṭha lokadhamme anuparivattati.
Katame aṭṭha?
Lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṁsā ca, sukhañca, dukkhañca.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca ime aṭṭha lokadhamme anuparivattati.
Assutavato, bhikkhave, puthujjanassa uppajjati lābhopi alābhopi yasopi ayasopi nindāpi pasaṁsāpi sukhampi dukkhampi.
Sutavatopi, bhikkhave, ariyasāvakassa uppajjati lābhopi alābhopi yasopi ayasopi nindāpi pasaṁsāpi sukhampi dukkhampi.
Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“assutavato, bhikkhave, puthujjanassa uppajjati lābho.
So na iti paṭisañcikkhati:
‘uppanno kho me ayaṁ lābho;
so ca kho anicco dukkho vipariṇāmadhammo’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Uppajjati alābho …pe…
uppajjati yaso …
uppajjati ayaso …
uppajjati nindā …
uppajjati pasaṁsā …
uppajjati sukhaṁ …
uppajjati dukkhaṁ.
So na iti paṭisañcikkhati:
‘uppannaṁ kho me idaṁ dukkhaṁ;
tañca kho aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhamman’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa lābhopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, alābhopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, yasopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, ayasopi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, nindāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, pasaṁsāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, sukhampi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati, dukkhampi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati.
So uppannaṁ lābhaṁ anurujjhati, alābhe paṭivirujjhati;
uppannaṁ yasaṁ anurujjhati, ayase paṭivirujjhati;
uppannaṁ pasaṁsaṁ anurujjhati, nindāya paṭivirujjhati;
uppannaṁ sukhaṁ anurujjhati, dukkhe paṭivirujjhati.
So evaṁ anurodhavirodhasamāpanno na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi.
‘Na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa uppajjati lābho.
So iti paṭisañcikkhati:
‘uppanno kho me ayaṁ lābho;
so ca kho anicco dukkho vipariṇāmadhammo’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Uppajjati alābho …pe…
uppajjati yaso …
uppajjati ayaso …
uppajjati nindā …
uppajjati pasaṁsā …
uppajjati sukhaṁ …
uppajjati dukkhaṁ.
So iti paṭisañcikkhati:
‘uppannaṁ kho me idaṁ dukkhaṁ;
tañca kho aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhamman’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa lābhopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, alābhopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, yasopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, ayasopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, nindāpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, pasaṁsāpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, sukhampi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, dukkhampi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
So uppannaṁ lābhaṁ nānurujjhati, alābhe nappaṭivirujjhati;
uppannaṁ yasaṁ nānurujjhati, ayase nappaṭivirujjhati;
uppannaṁ pasaṁsaṁ nānurujjhati, nindāya nappaṭivirujjhati;
uppannaṁ sukhaṁ nānurujjhati, dukkhe nappaṭivirujjhati.
So evaṁ anurodhavirodhavippahīno parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi.
‘Parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso ayaṁ adhippayāso idaṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenāti.
Lābho alābho ca yasāyaso ca,
Nindā pasaṁsā ca sukhaṁ dukhañca;
Ete aniccā manujesu dhammā,
Asassatā vipariṇāmadhammā.
Ete ca ñatvā satimā sumedho,
Avekkhati vipariṇāmadhamme;
Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ,
Aniṭṭhato no paṭighātameti.
Tassānurodhā atha vā virodhā,
Vidhūpitā atthaṅgatā na santi;
Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ,
Sammappajānāti bhavassa pāragū”ti.
Chaṭṭhaṁ.