—Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng … thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.
Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.
“Cattārimāni, bhikkhave, sokhummāni.
Katamāni cattāri?
Idha, bhikkhave, bhikkhu rūpasokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca rūpasokhummena aññaṁ rūpasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca rūpasokhummena aññaṁ rūpasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Vedanāsokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca vedanāsokhummena aññaṁ vedanāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca vedanāsokhummena aññaṁ vedanāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Saññāsokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca saññāsokhummena aññaṁ saññāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca saññāsokhummena aññaṁ saññāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Saṅkhārasokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca saṅkhārasokhummena aññaṁ saṅkhārasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca saṅkhārasokhummena aññaṁ saṅkhārasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri sokhummānīti.
Rūpasokhummataṁ ñatvā,
vedanānañca sambhavaṁ;
Saññā yato samudeti,
atthaṁ gacchati yattha ca;
Saṅkhāre parato ñatvā,
dukkhato no ca attato.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
santo santipade rato;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhinin”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these four kinds of exquisiteness. What four? (1) Here, a bhikkhu possesses supreme exquisiteness of form. He does not perceive any other exquisiteness of form more excellent or sublime than that one; he does not yearn for any other exquisiteness of form more excellent or sublime than that one. (2) He possesses supreme exquisiteness of feeling an.ii.18 … (3) … supreme exquisiteness of perception … (4) … supreme exquisiteness of volitional activities. He does not perceive any other exquisiteness of volitional activities more excellent or sublime than that one; he does not yearn for any other exquisiteness of volitional activities more excellent or sublime than that one.
“These are the four kinds of exquisiteness.”
SC 2Having known the exquisiteness of form,
the origination of feelings,
how perception arises,
and where it disappears;
having known volitional activities
as alien, as suffering, and not as self,
truly that bhikkhu who sees rightly,
peaceful, delights in the peaceful state.
He bears his final body,
having conquered Māra and his mount.
—Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng … thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.
Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.
“Cattārimāni, bhikkhave, sokhummāni.
Katamāni cattāri?
Idha, bhikkhave, bhikkhu rūpasokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca rūpasokhummena aññaṁ rūpasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca rūpasokhummena aññaṁ rūpasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Vedanāsokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca vedanāsokhummena aññaṁ vedanāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca vedanāsokhummena aññaṁ vedanāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Saññāsokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca saññāsokhummena aññaṁ saññāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca saññāsokhummena aññaṁ saññāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Saṅkhārasokhummena samannāgato hoti paramena;
tena ca saṅkhārasokhummena aññaṁ saṅkhārasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati;
tena ca saṅkhārasokhummena aññaṁ saṅkhārasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri sokhummānīti.
Rūpasokhummataṁ ñatvā,
vedanānañca sambhavaṁ;
Saññā yato samudeti,
atthaṁ gacchati yattha ca;
Saṅkhāre parato ñatvā,
dukkhato no ca attato.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
santo santipade rato;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhinin”ti.
Chaṭṭhaṁ.