TTC 1—Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân chuyển bánh xe với pháp; bánh xe ấy không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu là con của người thù địch. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân biết nghĩa, biết pháp, biết vừa phải, biết thời và biết hội chúng.
Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân chuyển bánh xe với pháp; bánh xe ấy, không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu là con của người thù địch.
TTC 3Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển Pháp luân Vô thượng với pháp; bánh xe ấy, không do một ai ở đời có thể chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời. Thế nào là năm?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết nghĩa, biết pháp, biết vừa phải, biết thời và biết hội chúng.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển Pháp luân Vô Thượng với pháp; bánh xe ấy, không một ai có thể chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời.
“Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rājā cakkavattī dhammeneva cakkaṁ vatteti;
taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena pāṇinā.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, rājā cakkavattī atthaññū ca hoti, dhammaññū ca, mattaññū ca, kālaññū ca, parisaññū ca.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi aṅgehi samannāgato rājā cakkavattī dhammeneva cakkaṁ pavatteti;
taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena pāṇinā.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammeneva anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti;
taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, tathāgato arahaṁ sammāsambuddho atthaññū, dhammaññū, mattaññū, kālaññū, parisaññū.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammeneva anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti;
taṁ hoti dhammacakkaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti.
Paṭhamaṁ.
“Mendicants, possessing five factors a wheel-turning monarch wields power only in a principled manner.
And this power cannot be undermined by any human enemy.
What five?
A wheel-turning monarch knows what is right, knows principle, knows moderation, knows the right time, and knows the assembly.
A wheel-turning monarch who possesses these five factors wields power only in a principled manner.
And this power cannot be undermined by any human enemy.
In the same way, possessing five qualities a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha rolls forth the supreme Wheel of Dhamma only in a principled manner.
And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.
What five?
A Realized One knows what is right, knows principle, knows moderation, knows the right time, and knows the assembly.
Possessing these five qualities a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha rolls forth the supreme Wheel of Dhamma only in a principled manner.
And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.”
TTC 1—Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân chuyển bánh xe với pháp; bánh xe ấy không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu là con của người thù địch. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân biết nghĩa, biết pháp, biết vừa phải, biết thời và biết hội chúng.
Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân chuyển bánh xe với pháp; bánh xe ấy, không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu là con của người thù địch.
TTC 3Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển Pháp luân Vô thượng với pháp; bánh xe ấy, không do một ai ở đời có thể chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời. Thế nào là năm?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết nghĩa, biết pháp, biết vừa phải, biết thời và biết hội chúng.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển Pháp luân Vô Thượng với pháp; bánh xe ấy, không một ai có thể chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời.
“Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rājā cakkavattī dhammeneva cakkaṁ vatteti;
taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena pāṇinā.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, rājā cakkavattī atthaññū ca hoti, dhammaññū ca, mattaññū ca, kālaññū ca, parisaññū ca.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi aṅgehi samannāgato rājā cakkavattī dhammeneva cakkaṁ pavatteti;
taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena pāṇinā.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammeneva anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti;
taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, tathāgato arahaṁ sammāsambuddho atthaññū, dhammaññū, mattaññū, kālaññū, parisaññū.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammeneva anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti;
taṁ hoti dhammacakkaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti.
Paṭhamaṁ.