TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Udàyi có hội chúng đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp, sau khi thấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp.
—Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác. Thế nào là năm?
TTC 2“Ta sẽ thuyết pháp tuần tự”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết với mắt nhìn vào pháp môn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết vì lòng từ mẫn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không phải vì tài vật”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không làm thương tổn cho mình và cho người”. Thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.
—Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā udāyī mahatiyā gihiparisāya parivuto dhammaṁ desento nisinno hoti.
Addasā kho āyasmā ānando āyasmantaṁ udāyiṁ mahatiyā gihiparisāya parivutaṁ dhammaṁ desentaṁ nisinnaṁ.
Disvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, udāyī mahatiyā gihiparisāya parivuto dhammaṁ desetī”ti.
“Na kho, ānanda, sukaraṁ paresaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Paresaṁ, ānanda, dhammaṁ desentena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paresaṁ dhammo desetabbo.
Katame pañca?
‘Anupubbiṁ kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘pariyāyadassāvī kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘anuddayataṁ paṭicca kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘na āmisantaro kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘attānañca parañca anupahacca kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo.
Na kho, ānanda, sukaraṁ paresaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Paresaṁ, ānanda, dhammaṁ desentena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paresaṁ dhammo desetabbo”ti.
Navamaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying at Kosambi, in Ghosita’s Park. Now at that time Ven. Udayin was sitting surrounded by a large assembly of householders, teaching the Dhamma. Ven. Ananda saw Ven. Udayin sitting surrounded by a large assembly of householders, teaching the Dhamma, and on seeing him went to the Blessed One. On arrival, he bowed down to the Blessed One and sat to one side. As he was sitting there he said to the Blessed One: “Ven. Udayin, lord, is sitting surrounded by a large assembly of householders, teaching the Dhamma.”
“It’s not easy to teach the Dhamma to others, Ananda. The Dhamma should be taught to others only when five qualities are established within the person teaching. Which five?
“[1] The Dhamma should be taught with the thought, ‘I will speak step-by-step.’
“[2] The Dhamma should be taught with the thought, ‘I will speak explaining the sequence [of cause & effect].’
“[3] The Dhamma should be taught with the thought, ‘I will speak out of compassion.’
“[4] The Dhamma should be taught with the thought, ‘I will speak not for the purpose of material reward.’
“[5] The Dhamma should be taught with the thought, ‘I will speak without hurting myself or others.’
“It’s not easy to teach the Dhamma to others, Ananda. The Dhamma should be taught to others only when these five qualities are established within the person teaching.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Udàyi có hội chúng đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp, sau khi thấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp.
—Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác. Thế nào là năm?
TTC 2“Ta sẽ thuyết pháp tuần tự”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết với mắt nhìn vào pháp môn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết vì lòng từ mẫn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không phải vì tài vật”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không làm thương tổn cho mình và cho người”. Thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.
—Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā udāyī mahatiyā gihiparisāya parivuto dhammaṁ desento nisinno hoti.
Addasā kho āyasmā ānando āyasmantaṁ udāyiṁ mahatiyā gihiparisāya parivutaṁ dhammaṁ desentaṁ nisinnaṁ.
Disvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, udāyī mahatiyā gihiparisāya parivuto dhammaṁ desetī”ti.
“Na kho, ānanda, sukaraṁ paresaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Paresaṁ, ānanda, dhammaṁ desentena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paresaṁ dhammo desetabbo.
Katame pañca?
‘Anupubbiṁ kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘pariyāyadassāvī kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘anuddayataṁ paṭicca kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘na āmisantaro kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo;
‘attānañca parañca anupahacca kathaṁ kathessāmī’ti paresaṁ dhammo desetabbo.
Na kho, ānanda, sukaraṁ paresaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Paresaṁ, ānanda, dhammaṁ desentena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paresaṁ dhammo desetabbo”ti.
Navamaṁ.