TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Gijjhakùta. Rồi Upaka Mandikàputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Upaka Mandikàputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con nói như sau, con thấy như sau: “Ai bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, người ấy về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, người ấy đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội”.
—Này Upaka, ai bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, người ấy về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, người ấy đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội! Này Upaka, Ông bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, Ông về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, Ông đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội!
TTC 2—Ví như, bạch Thế Tôn, một người bắt con vật của mình săn với một bẫy sập lớn, khi con vật thò đầu ra. Cũng vậy, con bị Thế Tôn bắt với cái bẫy sập lớn bằng chữ khi con vừa mới mở miệng (khi con vừa mới thò đầu ra).
—Này Upaka, “Ðây là bất thiện”. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai. “Ðây là bất thiện!”, này Upaka, bất thiện này cần phải đoạn tận. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai. “Ðây, pháp bất thiện này cần phải đoạn tận”. “Ðây là thiện”, này Upaka. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Thế Tôn: “Ðây là pháp thiện”. Thiện pháp này cần phải tu tập. Này Upaka, Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Thế Tôn: “Ðây, pháp thiện này cần phải tu tập”.
TTC 3Rồi Upaka Mandikàputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về phía Ngài, rồi đi đến Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha. Sau khi đến, Upaka tường thuật lại cho Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha nghe tất cả cuộc đàm luận với Thế Tôn.
Ðược nghe nói như vậy, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha phẫn nộ, không hoan hỷ nói với Upaka Mandikàputta:
—Thật là độc hại, đứa trẻ làm muối này! Thật là lắm mồm, thật là kẻ liều mạng. Nghĩ rằng nó có thể nhiếc mắng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy đi đi, này Upaka! Chớ để Ta thấy Ông nữa!
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho upako maṇḍikāputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho upako maṇḍikāputto bhagavantaṁ etadavoca:
“Ahañhi, bhante, evaṁvādī evaṁdiṭṭhi:
‘yo koci parūpārambhaṁ vatteti, parūpārambhaṁ vattento sabbo so na upapādeti.
Anupapādento gārayho hoti upavajjo’”ti.
“Parūpārambhañce, upaka, vatteti parūpārambhaṁ vattento na upapādeti, anupapādento gārayho hoti upavajjo.
Tvaṁ kho, upaka, parūpārambhaṁ vattesi, parūpārambhaṁ vattento na upapādesi, anupapādento gārayho hosi upavajjo”ti.
“Seyyathāpi, bhante, ummujjamānakaṁyeva mahatā pāsena bandheyya;
evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, ummujjamānakoyeva bhagavatā mahatā vādapāsena baddho”ti.
“Idaṁ akusalanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ akusalanti.
Taṁ kho panidaṁ akusalaṁ pahātabbanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ akusalaṁ pahātabbanti.
Idaṁ kusalanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ kusalanti.
Taṁ kho panidaṁ kusalaṁ bhāvetabbanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ kusalaṁ bhāvetabban”ti.
Atha kho upako maṇḍikāputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā yāvatako ahosi bhagavatā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa ārocesi.
Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto kupito anattamano upakaṁ maṇḍikāputtaṁ etadavoca:
“yāva dhaṁsī vatāyaṁ loṇakāradārako yāva mukharo yāva pagabbo yatra hi nāma taṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ āsādetabbaṁ maññissati;
apehi tvaṁ, upaka, vinassa, mā taṁ addasan”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Once the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain.
Then Upaka the son of Maṇḍikā went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, this is my doctrine and view:
‘Whoever goes on complaining about others without giving any reasons
is reprehensible and at fault.’”
“Upaka, if someone goes on complaining about others without giving a reason, they’re reprehensible and at fault.
But that’s what you do, so you’re reprehensible and at fault!”
“Sir, like a fish caught in a big trap just as it rises,
so the Buddha caught me in a big trap of words just as I rose up.”
“Upaka, I’ve declared: ‘This is unskillful.’
And there are limitless words, phrases, and teachings of the Realized One about that:
‘This is another way of saying that this is unskillful.’
I’ve declared: ‘The unskillful should be given up.’
And there are limitless words, phrases, and teachings of the Realized One about that:
‘This is another way of saying that the unskillful should be given up.’
I’ve declared that: ‘This is skillful.’
And there are limitless words, phrases, and teachings of the Realized One about that:
‘This is another way of saying that this is skillful.’
I’ve declared: ‘The skillful should be developed.’
And there are limitless words, phrases, and teachings of the Realized One about that:
‘This is another way of saying that the skillful should be developed.’”
And then Upaka son of Maṇḍikā approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he went up to King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha. He told the King of all they had discussed.
But Ajātasattu became angry and upset, and said to Upaka,
“How rude of this salt-maker’s boy! How scurrilous and impudent of him to imagine he could attack the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Get out, Upaka, go away! Don’t let me see you again.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Gijjhakùta. Rồi Upaka Mandikàputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Upaka Mandikàputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con nói như sau, con thấy như sau: “Ai bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, người ấy về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, người ấy đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội”.
—Này Upaka, ai bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, người ấy về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, người ấy đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội! Này Upaka, Ông bắt đầu mắng nhiếc người khác và tiếp tục như vậy, Ông về mọi phương diện không thể bênh vực lập trường của mình, do không thể bênh vực lập trường của mình, Ông đáng bị quở trách, đáng bị phạm tội!
TTC 2—Ví như, bạch Thế Tôn, một người bắt con vật của mình săn với một bẫy sập lớn, khi con vật thò đầu ra. Cũng vậy, con bị Thế Tôn bắt với cái bẫy sập lớn bằng chữ khi con vừa mới mở miệng (khi con vừa mới thò đầu ra).
—Này Upaka, “Ðây là bất thiện”. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai. “Ðây là bất thiện!”, này Upaka, bất thiện này cần phải đoạn tận. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai. “Ðây, pháp bất thiện này cần phải đoạn tận”. “Ðây là thiện”, này Upaka. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Thế Tôn: “Ðây là pháp thiện”. Thiện pháp này cần phải tu tập. Này Upaka, Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Thế Tôn: “Ðây, pháp thiện này cần phải tu tập”.
TTC 3Rồi Upaka Mandikàputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về phía Ngài, rồi đi đến Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha. Sau khi đến, Upaka tường thuật lại cho Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha nghe tất cả cuộc đàm luận với Thế Tôn.
Ðược nghe nói như vậy, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha phẫn nộ, không hoan hỷ nói với Upaka Mandikàputta:
—Thật là độc hại, đứa trẻ làm muối này! Thật là lắm mồm, thật là kẻ liều mạng. Nghĩ rằng nó có thể nhiếc mắng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy đi đi, này Upaka! Chớ để Ta thấy Ông nữa!
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho upako maṇḍikāputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho upako maṇḍikāputto bhagavantaṁ etadavoca:
“Ahañhi, bhante, evaṁvādī evaṁdiṭṭhi:
‘yo koci parūpārambhaṁ vatteti, parūpārambhaṁ vattento sabbo so na upapādeti.
Anupapādento gārayho hoti upavajjo’”ti.
“Parūpārambhañce, upaka, vatteti parūpārambhaṁ vattento na upapādeti, anupapādento gārayho hoti upavajjo.
Tvaṁ kho, upaka, parūpārambhaṁ vattesi, parūpārambhaṁ vattento na upapādesi, anupapādento gārayho hosi upavajjo”ti.
“Seyyathāpi, bhante, ummujjamānakaṁyeva mahatā pāsena bandheyya;
evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, ummujjamānakoyeva bhagavatā mahatā vādapāsena baddho”ti.
“Idaṁ akusalanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ akusalanti.
Taṁ kho panidaṁ akusalaṁ pahātabbanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ akusalaṁ pahātabbanti.
Idaṁ kusalanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ kusalanti.
Taṁ kho panidaṁ kusalaṁ bhāvetabbanti kho, upaka, mayā paññattaṁ.
Tattha aparimāṇā padā aparimāṇā byañjanā aparimāṇā tathāgatassa dhammadesanā—
itipidaṁ kusalaṁ bhāvetabban”ti.
Atha kho upako maṇḍikāputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā yāvatako ahosi bhagavatā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa ārocesi.
Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto kupito anattamano upakaṁ maṇḍikāputtaṁ etadavoca:
“yāva dhaṁsī vatāyaṁ loṇakāradārako yāva mukharo yāva pagabbo yatra hi nāma taṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ āsādetabbaṁ maññissati;
apehi tvaṁ, upaka, vinassa, mā taṁ addasan”ti.
Aṭṭhamaṁ.