TTC 1—Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không biết đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Nó suy nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa được uống”, và con bò cái ấy đã giơ chân sau lên, trước khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước, và nó không có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi, không có thể ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và không có thể uống nước trước kia chưa được uống. Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân, nó nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa uống”, nó không có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn. Vì sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi con hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có một số Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo, ly dục, ly ác pháp… chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy không thực hành, không tu tập tướng ấy không làm cho sung mãn, không trú một cách khéo trú, vị ấy lại suy nghĩ: “Ta hãy diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai”. Vị ấy không có thể diệt các tầm và tứ… không có thể chứng và trú Thiền thứ hai. Dầu cho vị ấy có suy nghĩ: “Ta hãy ly dục… chứng và an trú Thiền thứ nhất”, vị ấy cũng không thể ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía, ví như con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si , không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết đồng ruộng, biết thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Nó suy nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa được uống”, và con bò cái ấy, sau khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước rồi giơ chân sau lên, và nó có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và uống nước trước kia chưa được uống. Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân, nó nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa uống”, nó có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn. Vì sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết chỗ đồng ruộng, thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có một số Tỷ-kheo hiền trí, thông minh, biết chỗ đồng ruộng, biết thiện xảo, ly dục, ly ác pháp… có thể chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy lại suy nghĩ: “Ta hãy diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai”. Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ hai, diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy ly hỷ… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba”. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy đoạn lạc, đoạn khổ… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư”. Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ tư, đoạn lạc, đoạn khổ… chứng và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt”, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy không lẫn lộn Không vô biên xứ, vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn… không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn”, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy không lẫn lộn Thức vô biên xứ, vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn”, biết rằng “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy không lẫn lộn Vô sở hữu xứ, vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn”, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy không lẫn lộn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định”. Vị ấy không lẫn lộn Diệt thọ tưởng định, vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo nhập vào và xuất ra khỏi Thiền chứng ấy, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm. Với tâm nhu nhuyến kham nhậm, định được khéo tu tập, trở thành vô lượng. Vị ấy với định vô lượng khéo tu tập, tùy theo pháp gì, pháp gì cần được chứng ngộ với thắng trí, vị ấy hướng tâm về sự chứng ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có được khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc nhiều loại thần thông, một thân có thể trở thành nhiều thân… với thân có thể đạt đến cõi Phạm thiên. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc Thiên nhĩ thông… Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng Tha tâm thông, với tâm của mình biết được tâm của các loại chúng sanh và các loại hữu tình: Tâm có tham biết là tâm có tham, tâm không tham biết là tâm không tham… tâm giải thoát biết là tâm giải thoát. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể: 'Ta sẽ nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… có thể nhớ được nhiều đời quá khứ, với các nét đại cương và các chi tiết”. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu vị ấy muốn, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân… “Ta có thể rõ biết các loài hữu tình theo nghiệp lực của chúng”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể, do đoạn tận các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt, vị ấy an trú. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào.
“Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ.
Tassā evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti.
Sā purimaṁ pādaṁ na suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya.
Sā na ceva agatapubbaṁ disaṁ gaccheyya, na ca akhāditapubbāni tiṇāni khādeyya, na ca apītapubbāni pānīyāni piveyya;
yasmiṁ cassā padese ṭhitāya evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti tañca padesaṁ na sotthinā paccāgaccheyya.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi sā, bhikkhave, gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu bālo abyatto akhettaññū akusalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
so taṁ nimittaṁ na āsevati na bhāveti na bahulīkaroti na svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So na sakkoti vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharituṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So na sakkoti vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharituṁ.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ubhato bhaṭṭho ubhato parihīno, seyyathāpi sā gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ’.
Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā paṇḍitā byattā khettaññū kusalā visame pabbate carituṁ.
Tassā evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti.
Sā purimaṁ pādaṁ suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya.
Sā agatapubbañceva disaṁ gaccheyya, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyya, apītapubbāni ca pānīyāni piveyya.
Yasmiṁ cassā padese ṭhitāya evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti tañca padesaṁ sotthinā paccāgaccheyya.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi sā, bhikkhave, gāvī pabbateyyā paṇḍitā byattā khettaññū kusalā visame pabbate carituṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu paṇḍito byatto khettaññū kusalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So dutiyaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihareyyaṁ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeyyaṁ yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti—upekkhako satimā sukhavihārīti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So tatiyaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno pītiyā ca virāgā … tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So catutthaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So ākāsānañcāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So viññāṇañcāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So ākiñcaññāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So nevasaññānāsaññāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So saññāvedayitanirodhaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu taṁ tadeva samāpattiṁ samāpajjatipi vuṭṭhātipi, tassa mudu cittaṁ hoti kammaññaṁ.
Mudunā kammaññena cittena appamāṇo samādhi hoti subhāvito.
So appamāṇena samādhinā subhāvitena yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ—ekopi hutvā bahudhā assaṁ, bahudhāpi hutvā eko assaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbāya sotadhātuyā …pe…
sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ,
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītamohaṁ vā cittaṁ …
saṅkhittaṁ vā cittaṁ …
vikkhittaṁ vā cittaṁ …
mahaggataṁ vā cittaṁ …
amahaggataṁ vā cittaṁ …
sauttaraṁ vā cittaṁ …
anuttaraṁ vā cittaṁ …
samāhitaṁ vā cittaṁ …
asamāhitaṁ vā cittaṁ …
vimuttaṁ vā cittaṁ …
avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajāneyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyaṁ, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajāneyyan’ti
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane”ti.
Catutthaṁ.
“Suppose there was a mountain cow—foolish, inexperienced, unfamiliar with her pasture, unskilled in roaming on rugged mountains—and she were to think, ‘What if I were to go in a direction I have never gone before, to eat grass I have never eaten before, to drink water I have never drunk before!’ She would lift her hind hoof without having placed her front hoof firmly and [as a result] would not get to go in a direction she had never gone before, to eat grass she had never eaten before, or to drink water she had never drunk before. And as for the place where she was standing when the thought occurred to her, ‘What if I were to go where I have never been before… to drink water I have never drunk before,’ she would not return there safely. Why is that? Because she is a foolish, inexperienced mountain cow, unfamiliar with her pasture, unskilled in roaming on rugged mountains.
“In the same way, there are cases where a monk—foolish, inexperienced, unfamiliar with his pasture, unskilled in being quite withdrawn from sensuality, withdrawn from unskillful qualities, and entering & remaining in the first jhana: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation—doesn’t stick with that theme, doesn’t develop it, pursue it, or establish himself firmly in it. The thought occurs to him, ‘What if I, with the stilling of directed thoughts & evaluations, were to enter & remain in the second jhana: rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance.’ He is not able… to enter & remain in the second jhana… The thought occurs to him, ‘What if I… were to enter & remain in the first jhana… He is not able… to enter & remain in the first jhana. This is called a monk who has slipped & fallen from both sides, like the mountain cow, foolish, inexperienced, unfamiliar with her pasture, unskilled in roaming on rugged mountains.
“But suppose there was a mountain cow—wise, experienced, familiar with her pasture, skilled in roaming on rugged mountains—and she were to think, ‘What if I were to go in a direction I have never gone before, to eat grass I have never eaten before, to drink water I have never drunk before!’ She would lift her hind hoof only after having placed her front hoof firmly and [as a result] would get to go in a direction she had never gone before… to drink water she had never drunk before. And as for the place where she was standing when the thought occurred to her, ‘What if I were to go in a direction I have never gone before… to drink water I have never drunk before,’ she would return there safely. Why is that? Because she is a wise, experienced mountain cow, familiar with her pasture, skilled in roaming on rugged mountains.
“In the same way, there are some cases where a monk—wise, experienced, familiar with his pasture, skilled in being quite withdrawn from sensuality, withdrawn from unskillful qualities, and entering & remaining in the first jhana: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation—sticks with that theme, develops it, pursues it, & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if, with the stilling of directed thoughts & evaluations, I were to enter & remain in the second jhana: rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance.’ Without jumping at the second jhana, he—with the stilling of directed thoughts & evaluations—enters & remains in the second jhana: rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance. He sticks with that theme, develops it, pursues it, & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if, with the fading of rapture, I… were to enter & remain in the third jhana…’ Without jumping at the third jhana, with the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhana, of which the Noble Ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.’ He sticks with that theme, develops it, pursues it, & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if I… were to enter & remain in the fourth jhana…’ Without jumping at the fourth jhana, with the abandoning of pleasure & stress—as with the earlier disappearance of elation & distress—he enters & remains in the fourth jhana: purity of equanimity & mindfulness, neither-pleasure-nor-pain. He sticks with that theme, develops it, pursues it, & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if I… were to enter & remain in the dimension of the infinitude of space.’ Without jumping at the dimension of the infinitude of space, he, with the complete transcending of perceptions of [physical] form, with the disappearance of perceptions of resistance, and not heeding perceptions of diversity, [perceiving,] ‘Infinite space,’ enters & remains in the dimension of the infinitude of space. He sticks with that theme, develops it, pursues it, & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if I… were to enter & remain in the dimension of the infinitude of consciousness.’ Without jumping at the dimension of the infinitude of consciousness, he, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of space, [perceiving,] ‘Infinite consciousness,’ enters & remains in the dimension of the infinitude of consciousness. He sticks with that theme, develops it, pursues it, & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if I… were to enter & remain in the dimension of nothingness.’ Without jumping at the dimension of nothingness, he, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of consciousness, [perceiving,] ‘There is nothing,’ enters & remains in the dimension of nothingness. He sticks with that theme, develops it, pursues, it & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if I… were to enter & remain in the dimension of neither perception nor non-perception.’ Without jumping at the dimension of neither perception nor non-perception, he, with the complete transcending of the dimension of nothingness, enters & remains in the dimension of neither perception nor non-perception. He sticks with that theme, develops it, pursues it, & establishes himself firmly in it.
“The thought occurs to him, ‘What if I, with the complete transcending of the dimension of neither perception nor non-perception, were to enter & remain in the cessation of perception & feeling.’ Without jumping at the cessation of perception & feeling, he, with the complete transcending of the dimension of neither perception nor non-perception, enters & remains in the cessation of perception & feeling.
“When a monk enters & emerges from that very attainment, his mind is pliant & malleable. With his pliant, malleable mind, limitless concentration is well developed. With his concentration well developed & limitless, then whichever of the six higher knowledges he turns his mind to know & realize, he can witness them for himself whenever there is an opening.
“If he wants, he wields manifold supranormal powers. Having been one he becomes many; having been many he becomes one. He appears. He vanishes. He goes unimpeded through walls, ramparts, and mountains as if through space. He dives in and out of the earth as if it were water. He walks on water without sinking as if it were dry land. Sitting crosslegged he flies through the air like a winged bird. With his hand he touches and strokes even the sun and moon, so mighty and powerful. He exercises influence with his body even as far as the Brahma worlds. He can witness this for himself whenever there is an opening.
“If he wants, he hears—by means of the divine ear-element, purified and surpassing the human—both kinds of sounds: divine and human, whether near or far. He can witness this for himself whenever there is an opening.
“If he wants, he knows the awareness of other beings, other individuals, having encompassed it with his own awareness. He discerns a mind with passion as a mind with passion, and a mind without passion as a mind without passion. He discerns a mind with aversion as a mind with aversion, and a mind without aversion as a mind without aversion. He discerns a mind with delusion as a mind with delusion, and a mind without delusion as a mind without delusion. He discerns a restricted mind as a restricted mind, and a scattered mind as a scattered mind. He discerns an enlarged mind as an enlarged mind, and an unenlarged mind as an unenlarged mind. He discerns an excelled mind [one that is not at the most excellent level] as an excelled mind, and an unexcelled mind as an unexcelled mind. He discerns a concentrated mind as a concentrated mind, and an unconcentrated mind as an unconcentrated mind. He discerns a released mind as a released mind, and an unreleased mind as an unreleased mind. He can witness this for himself whenever there is an opening.
“If he wants, he recollects his manifold past lives (lit: previous homes), i.e., one birth, two births, three births, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, one hundred, one thousand, one hundred thousand, many aeons of cosmic contraction, many aeons of cosmic expansion, many aeons of cosmic contraction and expansion, [recollecting], ‘There I had such a name, belonged to such a clan, had such an appearance. Such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life. Passing away from that state, I re-arose there. There too I had such a name, belonged to such a clan, had such an appearance. Such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life. Passing away from that state, I re-arose here.’ Thus he remembers his manifold past lives in their modes and details. He can witness this for himself whenever there is an opening.
“If he wants, he sees—by means of the divine eye, purified and surpassing the human—beings passing away and re-appearing, and he discerns how they are inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate in accordance with their kamma: ‘These beings—who were endowed with bad conduct of body, speech, and mind, who reviled the noble ones, held wrong views and undertook actions under the influence of wrong views—with the break-up of the body, after death, have re-appeared in the plane of deprivation, the bad destination, the lower realms, in hell. But these beings—who were endowed with good conduct of body, speech, and mind, who did not revile the noble ones, who held right views and undertook actions under the influence of right views—with the break-up of the body, after death, have re-appeared in the good destinations, in the heavenly world.’ Thus—by means of the divine eye, purified and surpassing the human—he sees beings passing away and re-appearing, and he discerns how they are inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate in accordance with their kamma. He can witness this for himself whenever there is an opening.
“If he wants, then through the ending of the mental fermentations, he remains in the fermentation-free awareness-release and discernment-release, having known and made them manifest for himself right in the here and now. He can witness this for himself whenever there is an opening.”
TTC 1—Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không biết đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Nó suy nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa được uống”, và con bò cái ấy đã giơ chân sau lên, trước khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước, và nó không có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi, không có thể ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và không có thể uống nước trước kia chưa được uống. Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân, nó nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa uống”, nó không có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn. Vì sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi con hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có một số Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo, ly dục, ly ác pháp… chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy không thực hành, không tu tập tướng ấy không làm cho sung mãn, không trú một cách khéo trú, vị ấy lại suy nghĩ: “Ta hãy diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai”. Vị ấy không có thể diệt các tầm và tứ… không có thể chứng và trú Thiền thứ hai. Dầu cho vị ấy có suy nghĩ: “Ta hãy ly dục… chứng và an trú Thiền thứ nhất”, vị ấy cũng không thể ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía, ví như con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si , không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết đồng ruộng, biết thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Nó suy nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa được uống”, và con bò cái ấy, sau khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước rồi giơ chân sau lên, và nó có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và uống nước trước kia chưa được uống. Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân, nó nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa uống”, nó có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn. Vì sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết chỗ đồng ruộng, thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có một số Tỷ-kheo hiền trí, thông minh, biết chỗ đồng ruộng, biết thiện xảo, ly dục, ly ác pháp… có thể chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy lại suy nghĩ: “Ta hãy diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai”. Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ hai, diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy ly hỷ… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba”. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy đoạn lạc, đoạn khổ… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư”. Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ tư, đoạn lạc, đoạn khổ… chứng và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt”, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy không lẫn lộn Không vô biên xứ, vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn… không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn”, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy không lẫn lộn Thức vô biên xứ, vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn”, biết rằng “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy không lẫn lộn Vô sở hữu xứ, vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn”, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy không lẫn lộn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định”. Vị ấy không lẫn lộn Diệt thọ tưởng định, vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo nhập vào và xuất ra khỏi Thiền chứng ấy, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm. Với tâm nhu nhuyến kham nhậm, định được khéo tu tập, trở thành vô lượng. Vị ấy với định vô lượng khéo tu tập, tùy theo pháp gì, pháp gì cần được chứng ngộ với thắng trí, vị ấy hướng tâm về sự chứng ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có được khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc nhiều loại thần thông, một thân có thể trở thành nhiều thân… với thân có thể đạt đến cõi Phạm thiên. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc Thiên nhĩ thông… Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng Tha tâm thông, với tâm của mình biết được tâm của các loại chúng sanh và các loại hữu tình: Tâm có tham biết là tâm có tham, tâm không tham biết là tâm không tham… tâm giải thoát biết là tâm giải thoát. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể: 'Ta sẽ nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… có thể nhớ được nhiều đời quá khứ, với các nét đại cương và các chi tiết”. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu vị ấy muốn, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân… “Ta có thể rõ biết các loài hữu tình theo nghiệp lực của chúng”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể, do đoạn tận các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt, vị ấy an trú. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào.
“Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ.
Tassā evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti.
Sā purimaṁ pādaṁ na suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya.
Sā na ceva agatapubbaṁ disaṁ gaccheyya, na ca akhāditapubbāni tiṇāni khādeyya, na ca apītapubbāni pānīyāni piveyya;
yasmiṁ cassā padese ṭhitāya evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti tañca padesaṁ na sotthinā paccāgaccheyya.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi sā, bhikkhave, gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu bālo abyatto akhettaññū akusalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
so taṁ nimittaṁ na āsevati na bhāveti na bahulīkaroti na svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So na sakkoti vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharituṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So na sakkoti vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharituṁ.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ubhato bhaṭṭho ubhato parihīno, seyyathāpi sā gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ’.
Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā paṇḍitā byattā khettaññū kusalā visame pabbate carituṁ.
Tassā evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti.
Sā purimaṁ pādaṁ suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya.
Sā agatapubbañceva disaṁ gaccheyya, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyya, apītapubbāni ca pānīyāni piveyya.
Yasmiṁ cassā padese ṭhitāya evamassa:
‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti tañca padesaṁ sotthinā paccāgaccheyya.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi sā, bhikkhave, gāvī pabbateyyā paṇḍitā byattā khettaññū kusalā visame pabbate carituṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu paṇḍito byatto khettaññū kusalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So dutiyaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihareyyaṁ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeyyaṁ yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti—upekkhako satimā sukhavihārīti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So tatiyaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno pītiyā ca virāgā … tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So catutthaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So ākāsānañcāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So viññāṇañcāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So ākiñcaññāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So nevasaññānāsaññāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja vihareyyan’ti.
So saññāvedayitanirodhaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu taṁ tadeva samāpattiṁ samāpajjatipi vuṭṭhātipi, tassa mudu cittaṁ hoti kammaññaṁ.
Mudunā kammaññena cittena appamāṇo samādhi hoti subhāvito.
So appamāṇena samādhinā subhāvitena yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ—ekopi hutvā bahudhā assaṁ, bahudhāpi hutvā eko assaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbāya sotadhātuyā …pe…
sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ,
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītamohaṁ vā cittaṁ …
saṅkhittaṁ vā cittaṁ …
vikkhittaṁ vā cittaṁ …
mahaggataṁ vā cittaṁ …
amahaggataṁ vā cittaṁ …
sauttaraṁ vā cittaṁ …
anuttaraṁ vā cittaṁ …
samāhitaṁ vā cittaṁ …
asamāhitaṁ vā cittaṁ …
vimuttaṁ vā cittaṁ …
avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajāneyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyaṁ, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajāneyyan’ti
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane”ti.
Catutthaṁ.