TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
“Seyyathāpi, bhikkhave, gadrabho gogaṇaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi dammo, ahampi dammo’ti.
Tassa na tādiso vaṇṇo hoti seyyathāpi gunnaṁ, na tādiso saro hoti seyyathāpi gunnaṁ, na tādisaṁ padaṁ hoti seyyathāpi gunnaṁ.
So gogaṇaṁyeva piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi dammo, ahampi dammo’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu bhikkhusaṅghaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi bhikkhu, ahampi bhikkhū’ti.
Tassa na tādiso chando hoti adhisīlasikkhāsamādāne seyyathāpi aññesaṁ bhikkhūnaṁ, na tādiso chando hoti adhicittasikkhāsamādāne seyyathāpi aññesaṁ bhikkhūnaṁ, na tādiso chando hoti adhipaññāsikkhāsamādāne seyyathāpi aññesaṁ bhikkhūnaṁ.
So bhikkhusaṅghaṁyeva piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi bhikkhu, ahampi bhikkhū’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘tibbo no chando bhavissati adhisīlasikkhāsamādāne, tibbo no chando bhavissati adhicittasikkhāsamādāne, tibbo no chando bhavissati adhipaññāsikkhāsamādāne’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dutiyaṁ.
“Monks, it is just as if a donkey were following right after a herd of cattle, saying, “I too am a cow! I too am a cow!” Its color is not that of a cow, its voice is not that of a cow, its hoof is not that of a cow, and yet it still keeps following right after the herd of cattle, saying, “I too am a cow! I too am a cow!” In the same way, there is the case where a certain monk follows right after the community of monks, saying, “I too am a monk! I too am a monk!” He doesn’t have the other monks’ desire for undertaking the training in heightened virtue, doesn’t have their desire for undertaking the training in heightened mind (concentration), doesn’t have their desire for undertaking the training in heightened discernment, and yet he still keeps following right after the community of monks, saying, “I too am a monk! I too am a monk!”
“So you should train yourselves: ‘Strong will be our desire for undertaking the training in heightened virtue; strong will be our desire for undertaking the training in heightened mind (concentration); strong will be our desire for undertaking the training in heightened discernment.’ That is how you should train yourselves.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: “Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo”.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
“Seyyathāpi, bhikkhave, gadrabho gogaṇaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi dammo, ahampi dammo’ti.
Tassa na tādiso vaṇṇo hoti seyyathāpi gunnaṁ, na tādiso saro hoti seyyathāpi gunnaṁ, na tādisaṁ padaṁ hoti seyyathāpi gunnaṁ.
So gogaṇaṁyeva piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi dammo, ahampi dammo’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu bhikkhusaṅghaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi bhikkhu, ahampi bhikkhū’ti.
Tassa na tādiso chando hoti adhisīlasikkhāsamādāne seyyathāpi aññesaṁ bhikkhūnaṁ, na tādiso chando hoti adhicittasikkhāsamādāne seyyathāpi aññesaṁ bhikkhūnaṁ, na tādiso chando hoti adhipaññāsikkhāsamādāne seyyathāpi aññesaṁ bhikkhūnaṁ.
So bhikkhusaṅghaṁyeva piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti:
‘ahampi bhikkhu, ahampi bhikkhū’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘tibbo no chando bhavissati adhisīlasikkhāsamādāne, tibbo no chando bhavissati adhicittasikkhāsamādāne, tibbo no chando bhavissati adhipaññāsikkhāsamādāne’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dutiyaṁ.