TTC 1—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm ấy đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị ấy thưa với Ta: “Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
TTC 2Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 3—Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy khích lệ họ tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính chúng Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu, tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy khích lệ họ tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác Tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này các Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.
TTC 4—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, đã được Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư… (như trên, với những thay đổi cần thiết)… một cách chơn thực, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Sàriputta, cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
“Imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā …pe…
‘sattime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti.
Katame satta?
Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, samādhigāravatā, sovacassatā, kalyāṇamittatā.
Ime kho, bhante, satta dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī’ti.
Idamavoca, bhikkhave, sā devatā.
Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Idha, bhante, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti, satthugāravatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.
Attanā ca dhammagāravo hoti …pe…
saṅghagāravo hoti …
sikkhāgāravo hoti …
samādhigāravo hoti …
suvaco hoti …
kalyāṇamitto hoti, kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālenāti.
Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi.
Idha, sāriputta, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti, satthugāravatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.
Attanā ca dhammagāravo hoti …pe…
saṅghagāravo hoti …
sikkhāgāravo hoti …
samādhigāravo hoti …
suvaco hoti …
kalyāṇamitto hoti, kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālenāti.
Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Catutthaṁ.
“Last night, monks, a certain devata in the far extreme of the night, her extreme radiance lighting up the entirety of Jeta’s Grove, came to me and, on arrival, bowed down to me and stood to one side. As she was standing there, she said to me, ‘These seven qualities, lord, lead to a monk’s non-decline. Which seven? Respect for the teacher, respect for the Dhamma, respect for the Sangha, respect for training, respect for concentration, compliance, having admirable friends. These seven qualities, lord, lead to a monk’s non-decline.’
“That is what that devata said. Having said it, she bowed down to me, circled me three times, and then disappeared right there.”
When this was said, Ven. Sariputta said to the Blessed One, “This, lord, is how I understand the detailed meaning of the Blessed One’s brief statement.
“There is the case where a monk himself has respect for the Teacher. He speaks in praise of having respect for the Teacher. With regard to those other monks who don’t have respect for the Teacher, he gets them to undertake respect for the Teacher. As for those other monks who do have respect for the Teacher, he at the proper times speaks in praise of them—truly, accurately.
“There is the case where a monk himself has respect for the Dhamma…
“There is the case where a monk himself has respect for the Sangha…
“There is the case where a monk himself has respect for training…
“There is the case where a monk himself has respect for concentration…
“There is the case where a monk himself is compliant…
“There is the case where a monk himself has admirable friends. He speaks in praise of having admirable friends. With regard to those other monks who don’t have admirable friends, he gets them to undertake admirable friendship. As for those other monks who do have admirable friends, he at the proper times speaks in praise of them—truly, accurately.
“This, lord, is how I understand the detailed meaning of the Blessed One’s brief statement.”
TTC 1—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm ấy đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị ấy thưa với Ta: “Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
TTC 2Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 3—Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy khích lệ họ tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính chúng Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu, tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy khích lệ họ tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác Tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này các Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.
TTC 4—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, đã được Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư… (như trên, với những thay đổi cần thiết)… một cách chơn thực, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Sàriputta, cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
“Imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā …pe…
‘sattime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti.
Katame satta?
Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, samādhigāravatā, sovacassatā, kalyāṇamittatā.
Ime kho, bhante, satta dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī’ti.
Idamavoca, bhikkhave, sā devatā.
Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Idha, bhante, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti, satthugāravatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.
Attanā ca dhammagāravo hoti …pe…
saṅghagāravo hoti …
sikkhāgāravo hoti …
samādhigāravo hoti …
suvaco hoti …
kalyāṇamitto hoti, kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālenāti.
Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi.
Idha, sāriputta, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti, satthugāravatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.
Attanā ca dhammagāravo hoti …pe…
saṅghagāravo hoti …
sikkhāgāravo hoti …
samādhigāravo hoti …
suvaco hoti …
kalyāṇamitto hoti, kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī.
Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti.
Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālenāti.
Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Catutthaṁ.